Thời gian này, trang phục lao động của phụ nữ trở nên đa dạng do việc họ tham gia vào các ngành nghề khác nhau. Nữ công nhân mặc quần áo bảo hộ lao động màu tím than hay áo sơ mi trắng, quần tím than liền yếm. Tóc cặp gọn lên cao, cắt ngắn hay uốn, đội mũ lưỡi trai hay trùm bao tóc bằng vải hoặc buộc chéo trên đầu chiếc khăn nhiều màu, chân đi giày ba-ta, giày vải, dép cao su đen hoặc “bốt”… Phụ nữ ngành y tế mặc áo bờ lu (blouse) dài màu trắng, quần vải trắng, đội mũ tròn trắng khi làm việc. Nữ mậu dịch viên mặc áo sơ mi cổ hai ve, tay thẳng rộng, màu xanh hòa bình hay màu trắng.
Phụ nữ lao động ở thành thị và nông thôn Trung Bộ thường mặc áo cánh ngắn hay áo bà ba bằng nhiều loại vải và nhiều màu khác nhau, quần màu đen, ống rộng, bằng sa tanh hay ni lông, tóc búi gọn sau gáy, có người vấn khăn như phụ nữ miền Bắc. Phụ nữ đứng tuổi tầng lớp trên ở thành phố, thị trấn mặc áo dài may sát thân, màu sáng như màu hoàng yến, màu xanh da trời…, cổ đứng, cao từ 3 – 5cm; Đặc biệt, màu tím Huế của chiếc áo dài vẫn được phụ nữ ưa chuộng. Tóc của họ vẫn búi như bình thường. Tuy nhiên, thời gian này đã xuất hiện một kiểu tóc khá cầu kỳ, búi tóc cao lên đỉnh đầu cuộn lại thành hình mỏ phượng, những dải tóc ở bên và ở gáy được chải, xếp thành nhiều lớp như cánh phượng, gọi là búi tóc phượng. Nhiều người vấn tóc trần, sau khi vấn tóc sau gáy chải một lớp tóc võng xuống hình lưỡi trai. Nữ sinh mặc áo dài trắng, quần trắng, tóc cặp trễ sau lưng hay cắt ngắn ngang vai (tóc thề), đội nón trắng và mỏng, lồng giữa hai lớp lá là những hàng chữ bằng giấy màu, gọi là nón bài thơ. Quai nón làm bằng dải lụa màu hồng, xanh da trời hoặc hoàng yến…. thắt như đôi bướm ở hai đầu trong vành nón hoặc buộc nút buông hai đầu mềm mại rủ xuống cạnh mái tóc. Phụ nữ Huế ít dùng đồ trang sức, một số vẫn đeo kiềng vàng.
Ở miền Nam, chế độ chính trị khác với miền Bắc khiển trang phục phụ nữ có nhiều điểm khác biệt, nhất là trang phục của phụ nữ thành thị. Phụ nữ lao động mọi lứa tuổi ở nông thôn thường đội khăn rằn, mặc quần áo bà ba màu đen, trắng, xanh, nâu; gụ, hoa… bằng nhiều loại vải, phổ biến là ni lông. Áo dài vẫn đựợc sử dụng. Người nhiều tuổi thường để tóc dài, búi gọn sau gáy. Nữ thanh niên cặp tóc hoặc xõa tóc. Ở thành thị, phụ nữ nhiều tuổi mặc áo dài may sát thân, vạt dài quá đầu gối, mặc quần trắng hoặc đen, tóc búi gọn sau gáy hoặc uốn tóc. Nữ thanh niên tầng lớp trên ăn mặc theo mốt hiện đại trên thế giới.
Những năm 1960, hàng ni lông tràn ngập miền Nam, thịnh hành nhất là kiểu áo dài mỏng được mặc ra ngoài một loại áo lót, cổ khoét rất sâu xuống, không tay, may liền với quần sa tanh đen. Ít năm sau Trần Lệ Xuân, vợ Ngô Đình Nhu tung ra một kiểu áo dài khoét cổ ngang – bị phản đối kịch liệt nhưng rồi người ta lại khoét cổ tròn; cổ vuông, cổ nhọn, tay áo ngắn hơn, tà rộng, dài ra, thân áo bó sát, thắt eo.
Những năm sau 1968, trong phong trào “mi ní”, chiếc áo dài lại đổi dạng, tà áo rất hẹp, vạt ngắn đến đầu gối, cổ cao, vai nối chéo, cánh tay áo ngắn, ống tay rộng. Áo dài may bằng các loại vải nội, vải ngoại với các màu trắng, màu sáng, màu bồ quân, màu tím Huế… Thân và vạt áo có khi thêu hoa, thêu rồng, thêu phượng. Nếu là vải hoa thì in đủ các cỡ hoa to, hoa nhỏ nhiều màu sặc sỡ hoặc hình kỷ hà.
Phong trào mặc áo váy đầm cũng phát triển. Váy từ kiểu dài quá đầu gối, may phồng và hơi khum phần dưới sau lại may thẳng, xẻ chút ít ở giữa thân sau, may xếp li hoặc may bó, mặc với áo ngắn tay hoặc không tay, ngang lưng có dải vải thắt ngoài, hoặc mặc với áo thẳng, cổ viền, túi viền… một màu hay nối màu. Điểm xuyết vào các bộ trang phục này là những đường ren trên ngực, bên vai, hay ở thắt lưng đính bông hoa bằng vải, “nơ” to, hoặc chiếc kẹp trang sức đá quí, dải vải mỏng, dài… Nếu mặc áo ngắn tay hay không tay, người ta thường đeo găng ngắn hoặc dài bằng ren hay xoa thêu đẹp. Có người quàng khăn mỏng trên vai, đeo hoa tai. Sau năm 1968, chiếc váy mi ni ra đời, ngắn trên đầu gối.
Áo thời kỳ này, áo dệt thun chui đầu với các kiểu cộc tay, không tay, cổ bẻ hay không cổ, được mặc ra ngoài váy. Loại áo dài tay cài khuy “măng xét” cũng được sử dụng. Đặc biệt, áo sơ mi may rất dài, thân trước xẻ làm ba vạt.
Quần thời kỳ này là các loại quần thun bó sát, hoặc rộng dài. Quần Âu ống loe 30cm – 40cm xuất hiện với nhiều loại thắt lưng da các màu, to bản, có cả thắt lưng bằng kim khí. Những năm về sau này, ống loe phát triển, ống rộng 50cm rồi 60cm, hai bên ống quần không nối, gấu quần không vén, không máy mà được đốt thành những hình sóng lượn.
Áo quần kiểu “híp-pi” một thời chiếm lĩnh mốt thời trang Sài Gòn. Áo may bằng vải xô mỏng, thêu rối rắm, tay dài hoặc ngắn. Có loại áo may rất ngắn, đề hở cả lưng, bụng người mặc, ống tay áo dài hoặc ngắn nhưng rộng, gấu tay áo thít lại cho tay áo phồng lên. Quân bò Zin bó đùi, bạc phếch, có khi vá miếng da ở đầu gối, ở mông…
Giày dép cũng thay đổi nhanh chóng. Năm 1954 – 1959, phụ nữ giàu sang mới có điều kiện đi giày da đế mỏng, mũi nhọn, gót cao. ít năm sau, người ta đi giày mũi vuông, gót vuông, thấp. Nếu mặc áo dài thì đi guốc gỗ gót cao, nhọn, sơn mài hay sơn các màu, vẽ hoa lá. Tiếp đó xuất hiện những đôi giày rất cao, rất thô, những đôi guốc cao hơn l0cm.
Đồ trang sức phổ biến gồm vòng tay bằng nhựa nhiều màu đeo ở cổ tay hay cổ chân. Nhẫn phần nhiều đều gắn mặt đá màu cỡ lớn. Hoa tai vòng to. Trang sức ở cổ là vòng đồng hoặc chuỗi hạt to.
Kính đeo mắt gọng nhựa, mắt kính càng ngày càng to với các hình tròn, hình chữ nhật, hình vuông màu xanh, tím nhạt, hồng nâu v.v…
Các mốt trang điểm phát triển theo mốt trang phục. Môi son, má hồng, mắt kẻ đậm, mi tô màu xanh, nâu hoặc tím, lông mày nhổ, để lại một hàng chỉ rồi vẽ cho đậm. Móng tay, móng chân đánh hồng, đỏ, nâu, tím, xanh, nhũ bạc…
Từ ngày thống nhất đất nước đến nay, trang phục của phụ nữ ba miền không còn sự khác biệt nhiều nữa. Phụ nữ đứng tuổi ở thành thị ngày thường mặc áo cánh, áo bà ba, áo sơ mi, hai vạt trước hay ở ngực thêu hoa thưa hoặc giua nổi một vài họa tiết. Gấu áo, cổ tay, miệng túi, đường viền cổ hai bên tà áo đều giua. Có hình thức thêu hoa ở chung quanh gấu áo hoặc ở bốn góc tà áo trước và sau, vai áo tròn (cắt liền vải), hoặc vai chéo (raglan). Ngày lễ, ngày tết họ mặc áo dài màu trang nhã.
Nữ thanh niên có nhiều kiểu áo, áo bộ đồ mặc ở nhà, áo chui, áo mở, áo sơ mi chiết ly, áo sơ mi Hồng Kông, vai áo bồng, vai liền, vai chéo, áo có hoặc không có cầu, vai, áo có cả cầu ngực hoặc trang trí đường nổi ở ngực áo thành nửa hình tròn, hình vuông, hình nhọn, áo ngắn tay hoặc dài tay, tay măng xét, tay lửng, tay chun, tay loe, tay thụng, tay chun xi-mốc v.v… Áo mở tà hoặc không mở tà, vạt áo cong vành lược, hoặc lượn hình cung, hoặc tròn… Có kiểu áo hai hoặc một túi ngực nổi, có hoặc không có nắp, miệng túi thẳng hoặc chéo, có kiểu túi hình trái đào. Ve cổ áo nhiều kiểu phong phú: cổ liền, cổ thìa, cổ quả tim, cổ vuông, cổ chữ U, có nẹp hoặc làm xi-mốc, cổ tròn, cổ chữ; B, cổ một ve, cổ hai ve tròn, cổ hai ve nhọn, cổ haiive liền, cổ lá sen tròn, cổ lá sen nhọn, lá: sen vuông, lá sen nằm, cổ ve đứng có chân, cổ ‘đứng (như cổ áo dài), cổ cánh nhạn, cổ lật nhọn, cổ lính thuỷ, cổ Nhật Bản, cổ san v.v…
Các kiểu áo cầu kỳ thời gian này như áo cánh bướm, áo cánh dơi. Đặc điểm của áo cánh bướm là cổ áo tròn, tay áo loe rộng, gấu áo là một đường cong. Khi mặc, giang thẳng hai tay, toàn bộ thân áo như một nửa hình tròn. Đặc điểm của áo cánh dơi là cổ áo hình nhọn (chữ V), tay áo loe rộng, gấu áo hình nhọn (chữ V). Khi mặc, giang thẳng hai tay thì trông toàn, bộ thân, áo như một hình tam giác cân. Kiểu áo này được may bằng chất liệu mềm, tạo những nếp rủ làm cho những đường cong ở cửa tay, gấu áo mềm mại, áo có các màu sặc sỡ, các hình trang trí ở cổ áo, tay áo, gấu áo. Nhiều kiểu áo dệt kim cộc tay, áo phông đơn giản hợp với tuổi trẻ, tạo dáng khoẻ mạnh, áo sơ mi ghép nhiều màu bằng vải hoa hay vải trơn vào các bộ phận hợp lý như cổ áo, tay, ngực, vai… làm cho chiếc áo thêm hấp dẫn. Sau một thời gian dài mặc quần đen ống hẹp, ống thẳng, rộng, hơi loe, gần đây đa số phụ nữ mặc quần Âu, quần ống đứng, ống vẩy, quần bò, quần lửng, váy ngắn.
Các kiểu áo mùa đông phát triển rất mạnh, áo vét; áo len dài tay, ngắn tay, không tay; áo khoác kiểu măng-tô có đai thắt eo, áo chui đầu cổ cao, gấu chun hoặc không gấu… đan hoặc dệt, nhiều họa tiết và màu sắc, áo măng tô, áo lông, áo vi-ni-lông, áo dệt kim dày kiểu thể thao, áo liền mũ thắt dây lưng như áo trượt tuyết của các nước châu Âu, áo dạ, áo da v.v…
ở thành thị miền Bắc, phụ nữ vấn khăn chỉ còn lại số ít. Người nhiều tuổi thường búi tóc, uốn hoặc cắt tỉa ngắn, nữ thanh niên uốn tóc các kiểu hay cắt tỉa, uốn điện để tóc ốp vào đâu, hoặc để tóc dài, căt ngang vai v.v…
Vào mùa lạnh, phụ nữ nông thôn chít khăn vuông vải đen hay sợi dệt, khăn ni lông… Nữ thanh niên đội mũ len đan hình tròn ống, có người đội mũ nồi, mũ lưỡi trai bằng nhung, chít khăn vuông mỏng, quấn khăn dài nhiều màủ hoặc quấn khăn dài bằng len móc, hai đầu khăn có tua. Giày, guốc vẫn có các kiểu gót nhọn, gót vuông, gót bằng. Chất liệu giày bằng da, giả da, dép, guốc nhiều màu.
Thời gian sau này, có hiện tượng giao hoà trong trang phục phụ nữ nông thôn và thành thị, đặc biệt là trang phục khi không lao động. Trong hoàn cảnh đất nước thống nhất, sự giao lưu thuận tiện giữa ba miền đã tạo điều kiện cho sự giao lưu trang phục phát triển. Bộ quần áo bà ba không chỉ phổ biến ở miền Nam, màu tím Huế đã thấy thấp thoáng ở Hà Nội, chiếc nón lá Vĩnh Phú, Hà Tây… đã đi vào Nam. Đặc biệt, chiếc áo dài truyền thống, dù tà dài hay ngắn, rộng hay hẹp tà, màu trắng hay màu vàng, điểm hoa to, nhỏ hay in các hình ngang, dọc nhiều màu, bằng vải thường hay lụa quí… ngày nay là chiếc áo dài của cả ba miền, bên cạnh những tấm áo dài nâu non đổi vạt, buông vạt hoặc thắt vạt, bên cạnh những tà áo màu tím Huế, những tấm áo dài cài khuy cổ truyền phụ nữ ở miền Nam thường mặc. Có thể nói, chiếc áo dài của phụ nữ Việt Nam đã trở thành một biểu tượng của Việt Nam đối với thế giới.
Đặc biệt, gần đây, các cuộc trình diễn thời trang trong nước và quốc tế phát trên sóng truyền hình khiến trang phục của phụ nữ, đặc biệt phụ nữ thành thị ngày càng nổi bật về tính thời trang bên cạnh tính tiện dụng.
Nguồn:
Sách “
Trang phục truyền thống của các dân tộc Việt Nam”, Nhà Xuất bản Văn hóa – Thông tin
TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG
tiếp tục đăng tải thông tin về các danh nhân, địa danh, tên đường phố, mốc son lịch sử, dân tộc Việt Nam khác trên địa bàn TP. Đà Nẵng.
Chi tiết các danh nhân, địa danh, tên đường phố, mốc son lịch sử, dân tộc Việt Nam khác,
Quý anh/chị vui lòng liên hệ đường dây nóng
0236 1022
để được cung cấp (cước gọi điện 200đ+/phút, KHÔNG THU PHÍ PHỤC VỤ).
TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG: (0236) 1022 hoặc *1022, miễn phí phục vụ
1. Đường dây nóng tiếp nhận ý kiến phản ánh, góp ý của tổ chức, công dân.
2. Hướng dẫn, giải đáp quy định, chính sách, thông tin kinh tế – xã hội.
3. Hướng dẫn thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến.
4. Cung cấp thông tin về hỗ trợ doanh nghiệp; quy định, chính sách hỗ trợ Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
5. Cung cấp thông tin về du lịch, sự kiện Văn hóa – Thể thao.
6. Cung cấp dịch vụ Tổng đài CSKH, nhắn tin CSKH, truyền thông, sự kiện và các dịch vụ tư vấn khác…


English