Trang phục của Phụ nữ Kinh (Bài 2)

0:00

Phụ nữ tiểu thương thành thị, ngoại thành miền Bắc thường mặc áo cánh trắng hay nâu, mở hoặc kín tà. Cổ áo hình tròn, hình quả tim, cổ vuông hoặc cổ thìa… Áo dài tứ thân nâu, non buộc vạt, thả múi phía trước. Có người mặc kiểu hai vạt quặt chéo buộc ở sau lưng. Ngoài ra họ còn mặc loại áo gọi là áo dài đổi vai, gồm những miếng vải khác màu nối ở lưng, vai và phía trên cánh tay hoặc ở phía dưới hai vạt trước và sau. Đặc biệt những miếng đổi màu thường may so le nhau. Họ vấn khăn vải hay nhung đen, chít khăn mỏ quạ, mặc quần đen bằng vải láng, phi hoặc lụa, thắt bao lưng (ruột tượng) bên trong áo dài và áo cánh. Ruột tượng là một ống vải dài khoảng 150cm, rộng 15cm, hai đầu hình chéo vát, bên trong để tiền và giấy tờ, thắt múi thả phía trước. Bao lưng thường màu xanh, vàng chanh hay hoa lý, hồng điều…

Vào ngày hội, phụ nữ miền Bắc mặc các kiểu trang phục cổ truyền, đồng thời biết khéo léo sử dụng nhiều màu sắc tự nhiên, gần gũi với cuộc sống làm cho bộ trang phục biểu lộ rõ xu hướng thẩm mỹ.

Bộ áo mớ ba trong những ngày xuân trẩy hội nơi đình làng là trang phục điển hình của những cô gái Kinh Bắc. Đó là một bộ áo dài ba chiếc: ngoài cùng là áo tứ thân bằng the màu thâm hay màu nâu hoặc màu tam giang, hai chiếc ở trong màu mỡ gà và cánh sen, vàng chanh và hồ thuỷ. Cổ áo tròn, vạt thẳng, tay áo bó, cổ tay xẻ một đoạn để xỏ tay được dễ dàng.

Áo dài thường cài cúc cạnh sườn, đoạn từ nách lên cổ lật chéo để lộ ba màu áo ra ngoài.  Bên trong là áo cánh trắng không cài cúc cổ, tôn màu yếm hoa hiên hay đỏ thắm, cổ yếm có hai dải bơi chèo (vì trông giống chiếc bơi chèo) buộc sau gáy để lộ ra phía ngoài những lớp áo. Với việc khéo chọn màu sắc, cách mặc áo vạt buông, thắt tế nhị khiến trang phục của phụ nữ miền Bắc trông hấp dẫn mà vẫn giữ được sự nền nã, kín đáo, hài hoà.

Ngoài áo dài, phụ nữ miền Bắc còn mặc váy lưỡi trai bảy bức bằng lĩnh hay sồi đen dài chấm gót. Cạp váy bao giờ cũng may rộng bản, khoảng từ 8cm – 10cm, màu sáng như xanh, vàng chanh hay hồng điêu. Màu đen của váy làm nên cho những dải thắt lưng bằng vải sồi hay lụa tơ tằm màu mỡ gà, màu hồng đào, màu hoa thiên lý.

Cũng có khi họ mặc chiếc áo dài màu (xanh, hồng hoặc hoa hiên…) bằng lụa Tây Hồ, cài khuy cạnh, ngoài là áo dài the thâm La Cả làm dịu màu áo bên trong, tạo nên một sự hài hoà thật độc đáo. Ngoài áo, họ mặc váy hay quần lĩnh Bưởi, thắt lưng màu lục hay màu tím tam giang, buộc múi ra ngoài vạt áo trước.

Vào ngày hội, họ đội nón quai thao (nón thúng hay nón ba tầm). Nón hình tròn, mặt trên bằng, xung quanh có gờ dày khoảng 10cm – 12cm bằng lá gồi, khâu dây móc. Mặt dưới, ở giữa gắn một ống hình tròn bằng tre đan để làm chỗ dựa đội lên đầu cho cân gọi là chũm nón. Quanh chũm nón là những vòng tre chuốt nhỏ, khâu bằng chỉ tơ, đan chéo sợi với nhau rất công phu, trang trí hình bướm hay những bông hoa bằng chỉ nhiều màu. Quai nón làm bằng dây thao đen (do đó gọi là nón quai thao), gồm từ một đến ba dây chập lại buông xuống đến thắt lưng, (có khi quai nón là một dải vải dài). Hai đầu quai nón mỗi bên có năm, bảy đến mười nhóm tua nhỏ, dài khoảng 25cm – 30cm. Dưới chân họ đi đôi dép cong (bằng da trâu) hay đôi guốc cong bằng gỗ sơn đen, quai tết bằng da hay mây (một quai ngang hoặc hai quai chéo).

Ngoài ra, họ còn đeo bên mình một bộ xà tích bằng bạc, ống đựng vôi bằng bạc và con dao nhỏ, chuôi bằng sừng, vừa là đồ trang sức đồng thời dùng để bổ cau, têm trầu.

Đồ trang sức của phụ nữ miền Bắc thuộc tầng lớp trên gồm chuỗi hột vàng đeo cổ, càng giàu có càng quấn nhiều vòng, cổ tay đeo vòng vàng, vòng ngọc thạch hoặc xuyến vàng. Xuyến là một loại vòng mình dẹt, hai đầu khoằm ôm vào mình xuyến, có thể nới rộng ra để lồng bàn tay vào rồi thít cho vừa cổ tay. Xuyến mặt nhẵn gọi là xuyến trơn. Xuyến chạm trổ gọi là xuyến chạm. Những người giàu làm xuyến to bản tới 4cm còn thông thường là 7-8mm chiều ngang.

Phụ nữ Quảng Trị, Thừa Thiên, Huế đeo kiềng vàng (kiềng vàng là một vòng tròn hình ống, đường kính tiết diện khoảng dưới lcm, chạm trổ xung quanh hoặc để trơn), cổ tay đeo xuyến. Nếu là xuyến chạm, thường là một chiếc to, xuyến trơn gồm nhiều chiếc nhỏ, đeo ra ngoài tay áo. Ngón tay đeo nhẫn vàng trơn hay mặt ngọc.

Phụ nữ miền Nam thuộc tầng lớp khá giả đeo chuỗi hạt vàng quấn nhiều vòng quanh cổ, thả trễ xuống ngực. Ngoài ra họ còn đeo dây chuyền nách, một loại dây bằng vàng vòng qua cổ, đeo chéo xuống nách. Chân đi đôi guốc đế gỗ hoặc đi văn hài…

Với chính sách cai trị của Pháp, làn sóng văn hoá Tây Âu tràn vào Việt Nam đã ảnh hưởng tới thị hiếu của tầng lớp tư sản, tiểu tư sản, đặc biệt là thanh niên thành thị trong các phong trào “Sống mới”, “Vui khoẻ”, “Trẻ trung”. Năm 1935, ở Hà Nội, áo dài “Lơ Muya” xuất hiện với các kiểu được xem là “mốt tân tiến”. Áo vai bồng, tay măng sét (như tay áo sơ mi nam) hay tay chun. Cổ áo tròn khoét sâu xuống ngực, viền đăng ten, hoặc kiểu lá sen tròn, lá sen cài vắt chéo… Gấu áo cắt hình sóng lượn, đáp vải khác màu hay đính những đường đăng ten diêm dúa. Nhiều chi tiết của áo dài “Lơ Muya” giống áo, váy của phụ nữ châu Âu thời gian đó. Năm 1939, áo dài “Lơ Muya” có ít nhiều cải tiến: cổ áo đứng cao từ 1 đến 2 cm, tay thẳng, may liền vải, cổ tay hẹp, viền nhỏ. Có kiểu ở cửa tay, gấu, nẹp cài cúc đều viền vải khác màu thành đường nẹp rộng khoảng 0,5cm gọi là áo lé nẹp. Có kiểu gấu áo vê tròn lẳn, không gập.

Sau một thời gian, chiếc áo dài truyền thống lại được phục hồi. Phụ nữ thành thị tiểu tư sản, phụ nữ cao tuổi thường mặc áo dài cổ đứng cao từ 1 đến 2 cm, góc thẳng, quần đen. Các cô gái thường mặc áo cổ cao từ 4cm đến 7cm dựng bằng vải hồ cứng, góc tròn. Vạt áo lượn, tà khép, quần trắng.

Trong những năm kháng chiến chống Pháp, trang phục của phụ nữ nông thôn có nhiều thay đổi để phù hợp với cuộc sống vừa lao động sản xuất, vừa chiến đấu. Họ mặc áo cánh nâu, cổ tròn hay cổ quả tim, trong mặc áo lót không tay, quặn đen bằng vải phin hay láng. Vấn khăn và chít khăn vụông mỏ quạ. Những người thoát ly làm cán bộ mặc áo kiểu sơ mi đại cán, tay thẳng, cổ hình cánh nhạn ảo thường may bằng vảỉ màu xanh hoà bình hay ka ki màu xi măng, màu be hồng; tóc búi hoặc cặp lại; đi dép cao su đen. Thời gian này, ở vùng tự do hầu như vắng bóng những chiếc áo dài màu sắc của nữ thanh niên nhưng các bà, các cụ vẫn mặc áo tứ thân đi lễ, đi hội, đi họp…

Ở miền Trung Và miền Nam, phụ nữ vẫn giữ được nền nếp ăn mặc truyền thống, ở vùng Pháp tạm chiếm cũng không có gì thay đổi đặc biệt lắm trong tầng lớp phụ nữ lao động, tiểu thương và một số phụ nữ tiểu tư sản.

Sau khi hoà bình được lập lại, ở miền Bắc, phụ nữ thành thị, nông thôn đều tích cực tham gia hoạt động xã hội. Để phù hợp với cuộc sống mới, phụ nữ thành thị dần dần thay đổi cách ăn mặc. Phụ nữ cao tuổi thường mặc áo cánh ngắn hoặc áo bà ba, may sát eo, tà rộng, thân dài, đường gấu cong hình vành lược, cửa tay rộng; cổ áo hình quả tim hoặc cổ thìa, cổ vuông… may bằng các loại vải mỏng như phin nõn, lụa, pô-pơ-lin… Cán bộ, nhân viên cơ quan, xí nghiệp thường mặc áo sơ mi kiểu Hồng Kông, cổ bẻ, tay thụng. Hầu hết nữ thanh niên mặc áo sơ mi chiết eo hay kiểu Hồng Kông bó. Tay áo dài, cửa tay có măng sét to hoặc nhỏ, tay lửng hay áo cộc tay, vai bồng. Các kiểu cổ áo: hai ve, lá sen nằm, lá sen đứng, lá sen vuông, một ve nhọn v.v… Áo may bằng nhiều loại vải và nhiều màu sắc, điểm hoa hoặc kẻ ô, kẻ sọc. Quân màu đen được dùng phổ biến trong mọi tầng lớp, thường may bằng lụa chéo, lụa trơn, lụa hoa hay sa tanh, lanh, phíp v.v…

Mùa rét, phụ nữ thường mặc áo bông Tàu: cổ áo đứng cao 5cm (như cổ áo dài) vai tra, cửa tay rộng. Áo thắt eo, tà rộng, chăn mỏng, cài khuy, khuy thường bằng vải tết hình chiếc lá hay hình bướm cùng màu với vải áo. Kiểu áo bông này mặc gọn và đẹp. Còn áo kép là loại áo may bằng hai lần vải dày như nhung, hoặc sa tanh hoa hay trơn… cũng may như hình thức áo bông Tàu nhưng ở giữa không có bông (áo kép thường mặc vào mùa thu). Các cô gái mặc áo vét Hồng Kông có ly hay may thẳng, bằng vải ka ki dày, cố hai ve nhọn, tròn hoặc lá sen đứng, cúc cài ở giữa hay cài lệch bên ngực, hai túi thẳng hoặc chéo, tay thẳng, gấu tay gập vào trong hay lật ra ngoài. Ngoài áo vét còn có áo len các loại: dài tay hoặc không tay, áo mở, cài cúc, hay chui đầu, thân áo dài đến cạp quần, mặc ra ngoài áo sơ mi hay trong áo vét, cổ quàng khăn san, khăn nilông, khăn hoa hoặc khăn len…

Những người đứng tuổi thường quấn tóc trần, búi tóc hoặc uốn tóc, nữ thanh niên cặp tóc, tết đuôi sam, cắt tóc ngắn đến ngang vai hoặc uốn tóc; đi guốc gỗ, guốc nhựa đế bằng, hoặc cao gót từ 5cm – 7cm – 9cm, lòng máng, có một quai ngang hay hai quai chéo hoặc dép lê bằng nhựa nhiều kiểu và nhiều màu khác nhau.


Nguồn:


Sách “


Trang phục truyền thống của các dân tộc Việt Nam”, Nhà Xuất bản Văn hóa – Thông tin



TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG


tiếp tục đăng tải thông tin về các danh nhân, địa danh, tên đường phố, mốc son lịch sử, dân tộc Việt Nam khác trên địa bàn TP. Đà Nẵng.


Chi tiết các danh nhân, địa danh, tên đường phố, mốc son lịch sử, dân tộc Việt Nam khác,

Quý anh/chị vui lòng liên hệ đường dây nóng


0236 1022


để được cung cấp (cước gọi điện 200đ+/phút, KHÔNG THU PHÍ PHỤC VỤ).

TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG: (0236) 1022 hoặc *1022, miễn phí phục vụ  
1. Đường dây nóng tiếp nhận ý kiến phản ánh, góp ý của tổ chức, công dân.
2. Hướng dẫn, giải đáp quy định, chính sách, thông tin kinh tế – xã hội.
3. Hướng dẫn thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến.
4. Cung cấp thông tin về hỗ trợ doanh nghiệp; quy định, chính sách hỗ trợ Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
5. Cung cấp thông tin về du lịch, sự kiện Văn hóa – Thể thao.
6. Cung cấp dịch vụ Tổng đài CSKH, nhắn tin CSKH, truyền thông, sự kiện và các dịch vụ tư vấn khác…

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *