Trang phục của Phụ nữ Kinh (Bài 1)

0:00

Trang phục thường ngày truyền thống của phụ nữ ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ gồm áo, yếm, váy, khăn, nón.

Ảo ngắn: Loại áo cánh bằng vải nâu, cổ tròn, viền nhỏ, tà mở, đa số không cài cúc trước ngực. Bên trong là yếm màu vàng tơ tằm, màu hoa hiên hoặc nâu non.

Áo dài (áo tứ thân): Được sử dụng như trang phục hàng ngày đến đầu thế kỷ XX, còn ngày nay, áo tứ thân chỉ được mặc trong các dịp lễ hội. Trên sân khấu truyền thống, áo tứ thân dùng cho các vai nữ nông thôn, thường may bằng vải màu sẫm có khuy tròn gài bên nách phải. Áo tứ thân là một kiểu áo mà phần lưng áo gồm hai mảnh vải ghép lại, thường là màu nâu hoặc nâu non ghép với màu cùng gam; phía trước là hai thân tách rời, được buộc lại với nhau, thả trước bụng để tạo dáng người thon thả, phía trên không gài khít mà để lộ yếm màu bên trong; cổ áo viền 1 – 2 cm. Áo tứ thân dài gần chấm gót, tay áo bó chặt. Loại áo hai vạt phía trước đều nhau, buông thả xuống, không cài khuy, buộc hai vạt vào nhau gọi là áo buộc vạt. Trường hợp mặc áo buông vạt, người phụ nữ bao giờ cũng mặc yếm cổ xây cho kín đáo.

Ngoài ra còn có loại áo năm thân (vạt ngoài, còn gọi là vạt cả, ở bên trái người mặc, rộng gấp đôi vạt trong, còn gọi là vạt con bên phải) không cài khuy cạnh sườn mà dùng thắt lưng thắt ngang bụng giữ không cho vạt áo trễ xuống. Tất cả mọi trường hợp mặc áo dài đều đeo thắt lưng màu đẹp buông xuống phía trước.

Yếm: Là một miếng vải vuông đặt chéo trên ngực người mặc. Ở một góc (trên) khoét hình tròn làm cổ yếm (loại yếm này có tên là yếm cổ xây) hay khoét hình chữ V (gọi là yếm cổ xẻ hay yếm con nhạn), thường là xẻ nông nhưng cũng có loại xẻ sâu xuống phía dưới, ở góc nhọn yếm cổ xẻ (đáy chữ V) có ba đường khâu nổi như hình chân chim có tác dụng trang trí, đồng thời giữ cho cổ yếm lâu bị rách. Hai đầu cổ yếm có hai dải nhỏ để buộc ra sau gáy. Hai dải ở hai góc bên cạnh sườn buộc ra sau lưng. Có loại yếm, hai dải này là hai miếng vải hình tam giác dài vắt chéo ngang ở sau lưng rồi lại buộc ra phía trước. Hình thức loại yếm này kín cả ngực, bụng và một phân lưng, do đó người phụ nữ có thể không mặc áo ngoài, tay để trần.

Váy (có nơi ở Bắc Trung Bộ gọi là mấn): Thường mặc ngắn đến ống chân. Khi làm ruộng, người ta xắn váy cao lên trên đầu gối rồi buộc túm gấu váy trước và sau vào nhau và thường quấn thắt lưng bằng vải màu một hoặc rất nhiều vòng ngoài cạp váy, hoặc cùng một lúc họ dùng hai thắt lưng khác màu nhau, đầu thắt lưng giắt gọn lên cạp váy cho đỡ vướng. Mùa rét, phụ nữ nông thôn thường mặc thêm áo cánh hoặc mặc một kiểu áo cộc tay bằng vải thô, buộc một sợi dây quanh bụng cho gọn gàng.

Khăn: Khăn vấn tóc là một miếng vải dài khoảng 80cm, rộng chừng 15cm – 20cm, có màu đen, màu nâu hoặc màu tím tam giang. Để vấn tóc được tròn và chặt, người ta phải độn thêm vào tóc một cái độn (bằng vải nhồi bông), trông như hình con rắn (dài khoảng 50cm). Ở phía đầu độn còn có thêm một sợi dây nhỏ, dài bằng thân độn. Những người tóc không dài và thưa phải dùng một bộ tóc giả đệm thêm vào cho vành khăn dày để mớ tóc đuôi gà đong đưa duyên dáng. Các cụ bà bị rụng tóc, dùng một dải vải xoắn lại và quấn quanh đâu làm khăn.

Về mùa rét, phụ nữ miền Bắc và Bắc Trung Bộ còn chít khăn vuông màu thâm (thường gọi là khăn vuông hoặc khăn thâm). Đó là một miếng vải vuông mỗi cạnh từ 70cm đến 80cm. Khi chít, gập chéo khăn lại thành hình tam giác, đặt lên đầu, (có thể chỉ đặt ngang trên đỉnh đầu), hai góc khăn buộc vào dưới cằm, tai được trùm kín. Cũng có kiểu đặt mép khăn xuống gần trán, kéo hai bên khăn về hai phía thành một hình mỏ quạ ở giữa rồi buộc hai đầu khăn xuống dưới cằm hoặc quặt đầu khăn buộc ra sau gáy, gọi là chít khăn mỏ quạ.

Nón: Các loại nón thường thấy là nón lá gồi, lá cọ (loại lá già, bền chắc, để dãi nắng dầm mưa, lâu bị hở), nón chỏm bằng, nón lòng chảo (nông mà choãi), nón thúng (sâu và hơi khum), nón chân tượng (rất sâu, hình chân voi) – nón này còn gọi là nón quả bứa (vì trông giống quả bứa cắt ngang).

Nhìn chung, phụ nữ miền Bắc ưa chuộng màu nâu sồng. Màu sắc và kiểu áo phù hợp với điều kiện lao động, thời tiết từng miền. Dù là trang phục lao động, các kiểu quần áo vẫn được sửa đổi ngày một gọn gàng, ưa nhìn hơn.

Ở thành thị miền Bắc, tầng lớp phụ nữ ít phải lao động vất vả thường mặc váy dài màu đen chấm gót, áo cánh ngắn bằng vải trắng hay lụa tơ tằm. Yếm màu trắng, hoặc màu hoa hiên hay vàng tơ tằm. Thắt lưng bằng lụa màu. Khi có khách đến nhà hoặc có công việc ra đường, bao giờ họ cũng mặc thêm áo dài. Mùa nóng, họ mặc áo dài tứ thân hai vạt trước như nhau và buông thả tự nhiên hoặc buộc vạt phía trước hoặc phía sau. Mùa rét, họ mặc hai hoặc ba chiếc áo dài cùng một lúc gọi là áo mớ. Vấn khăn nhiễu, để tóc đuôi gà. Đầu đội nón ba tầm. Chân đi dép cong.

Răng đen hạt huyền, ăn trầu cho môi đỏ cũng là một tiêu chuẩn về cái đẹp của người phụ nữ.

Phụ nữ lao động ở miền Nam và Nam Trung Bộ ưa mặc màu đen. Áo cánh (áo bà ba) cài cúc giữa, vạt áo sau dài trùm mông. Đây là loại trang phục phổ biến ở các miền quê Nam Bộ. Cho đến nay, chưa có tài liệu nào nói rõ áo bà ba xuất hiện ở thời điểm nào. Do đó, có một số giả thiết.

–    Áo bà ba xuất hiện đầu tiên ở Nam Bộ vào thời Nhà Hậu Lê.

–    Áo bà ba xuất hiện vào nửa đầu thế kỷ XIX, được Trương Vĩnh Ký cách tân từ áo của người dân đảo Pénang, Malaysia (người Malaysia gốc Hoa) cho phù hợp với người Việt.

Người dân ở đồng bằng sông Cửu Long xưa thường vận bộ bà ba đen đi làm đồng, bởi nó vừa sạch, vừa dễ giặt giũ. Vải may là loại vải một, vải ú, vải sơn đầm… rất mau khô sau khi giặt. Bên cạnh đó, chiếc áo bà ba được xẻ ở hai bên hông làm cho người mặc cảm thấy thoải mái… Áo bà ba được phụ nữ mặc cả lúc đi làm, đi chợ, đi chơi. Riêng lúc đi chơi, họ thường chọn màu sắc nhẹ hơn như màu trắng, màu mạ non, xanh lơ nhạt… với chất liệu vải đắt tiền hơn như the, lụa…

Sau này, nhất là ở thời kỳ những năm 1960-1970, áo bà ba truyền thống được phụ nữ thành thị cải tiến, vừa dân tộc, vừa đẹp và hiện đại hơn. Áo dài bà ba hiện nay không thẳng và rộng như xưa, mà được may hẹp, nhấn thêm eo bụng, eo ngực cho ôm sát lấy thân hình. Ngoài ra, người ta còn sáng tạo các kiểu chắp vai, cổ tay, cửa tay, riêng các kiểu bâu (cổ) lá sen, cánh én, đan tôn… là được tiếp thu từ kiểu y phục nước ngoài. Các kiểu ráp tay cũng được cải tiến. Từ kiểu may áo cánh xưa, liền thân với tay, người ta nghĩ tới cách ráp tay rời ở bờ tay áo. Trong những năm 1970, thành thị miền Nam phổ biến kiểu ráp tay raglan, đã tạo nên vẻ đẹp hiện đại cho chiếc áo bà ba truyền thống. Với kiểu vai raglan này, hai thân áo trước và sau tách rời khỏi vai và tay áo, trong khi tay và áo lại liền từ cổ tới nách. Bà ba vai raglan chỉ cần may khít, vừa vặn với eo lưng, không quá thắt như kiểu áo trước đó. Tay áo dài hơn nhưng hơi loe, có khi người ta bỏ cả hai túi ở vạt trước để tạo cho thân áo nhẹ nhõm, mềm mại hơn.

Phụ nữ miền Nam dùng khăn vải màu sáng hoặc kẻ ô gập lại, vắt trên đầu để tránh nắng là chủ yếu. Mùa rét, phụ nữ Nam Trung Bộ quàng khăn vuông rộng.

Phụ nữ miền Trung mặc áo dài năm thân. Người nhiều tuổi hay mặc áo màu đậm, các cô gái mặc màu nhẹ hoặc trắng. Màu tím được dùng nhiều ở Huế. Có trường hợp mặc áo mớ ba nhưng khác miền Bắc là cài cúc kín, cổ áo trong cao hơn cổ áo ngoài chút ít để lộ ba màu khác nhau. Tà áo khép kín nhưng mép tà cũng vẫn lộ ba màu. Quần thường mặc màu trắng, hãn hữu mới mặc quần đen. Phụ nữ trung niên để tóc dài, chải ngược lên (gọi là chải láng) và búi gọn sau gáy. Phụ nữ trẻ để tóc dài, cặp lại phía sau hay để tóc ngang vai.

Vào những năm 1920-1930, trang phục ở nông thôn vẫn theo lối cổ truyền, nhưng trang phục của phụ nữ thành thị Bắc, Trung, Nam đã có nhiều thay đổi. Họ thường mặc áo dài, cổ áo tròn đứng. Từ vai đến cổ tay áo nhỏ dần, dọc ống tay áo mở một đoạn (dài chừng 3cm), sau khi mặc cài kín bằng cúc bấm cho tay áo khít vào cổ tay. Gấu áo dài cách đất từ 10cm-20cm). Khi mặc áo, cài cúc cạnh, chiếc cúc ở cổ nhiều khi không cài, gọi là áo cổ hở (riêng phụ nữ vùng Quảng Trị, Thừa Thiên và thành phố Huế mặc áo cài kín cổ). Phụ nữ miền Nam thường mặc áo dài đến đầu gối, phủ lên chiếc quần lĩnh đen. Tóc chải ngược lên rồi búi gọn sau đàu, cài trâm vàng hay cài hai cái lược cong ở hai bên để giữ búi tóc cho khỏi tuột.

Phụ nữ Hà Nội giai đoạn này dần dần bỏ mặc váy. Họ mặc quần màu đen bằng vải lĩnh, nái, sa tanh hay quần màu trắng bằng lụa, lanh, vấn khăn nhung đen, để tóc đuôi gà. Hình thức chải tóc lúc đàu ngược lên rồi bới gọn phía sau đỉnh đầu, đến giai đoạn búi ở gáy, về sau lại hạ thấp xuống nữa. Rẽ ngôi giữa, vấn tóc trần thường là phụ nữ Quảng Trị, Thừa Thiên, Huế. Phụ nữ miền Nam vẫn búi tóc cao, cài trâm (lông nhím). Hàng ngày tóc thường được chải, xoa bằng dầu dừa để bảo vệ và nuôi tóc được óng ả, mượt mà.


Nguồn:


Sách “


Trang phục truyền thống của các dân tộc Việt Nam”, Nhà Xuất bản Văn hóa – Thông tin



TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG


tiếp tục đăng tải thông tin về các danh nhân, địa danh, tên đường phố, mốc son lịch sử, dân tộc Việt Nam khác trên địa bàn TP. Đà Nẵng.


Chi tiết các danh nhân, địa danh, tên đường phố, mốc son lịch sử, dân tộc Việt Nam khác,

Quý anh/chị vui lòng liên hệ đường dây nóng


0236 1022


để được cung cấp (cước gọi điện 200đ+/phút, KHÔNG THU PHÍ PHỤC VỤ).

TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG: (0236) 1022 hoặc *1022, miễn phí phục vụ  
1. Đường dây nóng tiếp nhận ý kiến phản ánh, góp ý của tổ chức, công dân.
2. Hướng dẫn, giải đáp quy định, chính sách, thông tin kinh tế – xã hội.
3. Hướng dẫn thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến.
4. Cung cấp thông tin về hỗ trợ doanh nghiệp; quy định, chính sách hỗ trợ Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
5. Cung cấp thông tin về du lịch, sự kiện Văn hóa – Thể thao.
6. Cung cấp dịch vụ Tổng đài CSKH, nhắn tin CSKH, truyền thông, sự kiện và các dịch vụ tư vấn khác…

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *