Trang phục của người Kinh

0:00

Vài nét về trang phục

Dân tộc Kinh là tộc người có số lượng đông nhất, với nền văn hóa đa dạng nhất Việt Nam. Trang phục của người Kinh phong phú về chủng loại và độc đáo về kiểu dáng cũng như phong cách mặc ở từng vùng, miền. Ngày nay, trang phục của người Kinh trở thành biểu tượng chung khi nói về trang phục Việt Nam.

Dưới thời phong kiến, có những quy định rất khắt khe về cách ăn mặc. Dân thường không được phép mặc đồ nhuộm bất kỳ màu nào khác ngoài những màu đen, nâu hay trắng. Quần áo của người dân hầu hết bình thường và đơn sơ, phù hợp với thân phận của họ trong xã hội (ngoài những dịp quan trọng hoặc nghi lễ cúng tế, đám cưới…).

Nguồn nguyên liệu để may trang phục của người Kinh là tơ tằm. Theo một số nghiên cứu, nghề trồng dâu nuôi tằm ở nước ta đã xuất hiện từ thời Hùng Vương. Có nhiều loại tơ tằm tự nhiên, chẳng hạn tơ tằm dâu, tơ tằm thầu dầu lá sắn, tơ tằm sồi…, trong đó tơ tằm dâu chiếm tới 95% sản lượng.

Trồng dâu nuôi tằm là một công đoạn quan trọng trong việc tạo ra trang phục của người Việt. Đây là một công việc rất vất vả, vì vậy dân gian xưa đã có câu: “”Làm ruộng ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng””. Tằm lột xác nhiều lần, chuyển từ màu đen sang màu xanh nhạt, xanh đậm, xanh lục thẫm… Sau khi phát triển đến kích thước tối đa trong khoảng 6 tuần, tằm dừng ăn, thay đổi màu sắc.

Khi tằm chín vàng, người ta bắt lên né đóng kén. Né là tấm phên đan bằng tre, có những lỗ hổng vuông rộng mỗi bề 10cm. Tằm chín được bỏ vào né, đem để ra chỗ hơi có ánh nắng. Khi tằm đóng kén, người nuôi phải “”hong nắng”” sao cho kén khô, thơm để khi ươm tơ kén không bị tan cho sợi tơ vàng óng. Thiếu ánh nắng, tằm làm kén không được đẹp, vì trước khi nhả tơ làm kén, tằm sẽ “”đi tiểu”” lần đầu và cũng là lần cuối trong đời tằm rồi mới bắt đầu làm kén. Ánh nắng nhẹ làm khô nước tiểu tằm và kén sẽ có màu vàng óng rất đẹp; trái lại, nếu tằm chín phải ngày mưa, né phải để trong nhà thì kén sẽ bị xỉn màu, vì chất nước tiểu tằm thấm vào kén.

Thông thường, tơ có hai màu trắng và vàng do hai giống tằm khác nhau đóng kén. Giống tằm kén vàng là giống tằm truyền thống của người Việt, cho màu đẹp nhưng năng suất thấp, mỗi kén chỉ được khoảng 300 mét tơ.

Tiếp đó là quá trình ươm tơ. Đây là quy trình gia công kéo sợi tơ từ kén tằm thành tơ tằm, là một công đoạn đòi hỏi sự lành nghề và khéo léo. Trong quy trình ươm tơ, người ta đem kén tằm nấu trong nước sôi, làm cho lớp keo tơ secirine tan ra một phần, kén mềm và dễ dàng rút thành sợi.

Kén được thả vào nồi nước sôi hay chảo miệng rộng. Người ta đảo kén thành từng nhóm nổi trên mặt nước, tìm mối tơ gốc rút ra, quấn vào những con suốt, hình giống như lõi ống chỉ, xếp thẳng đứng thành hàng ngang, rồi cho chạy vào những guồng tơ tròn bằng gỗ, nằm bắc ngang trên nồi nước sôi và kéo hết tơ ở mỗi cái kén làm thành con tơ. Phần còn lại, lớp trong của kén cũng cho vào guồng ươm tơ quay vào ống lấy tơ nõn màu vàng nhạt, sợi nhỏ phía trong của kén. Sợi tơ này gồm hai sợi nhỏ, tiết ra từ cặp tuyến tơ ở tằm chín và dán chặt vào nhau, được bao phủ bởi một lớp keo (sericin), người ta phải tẩy sạch lớp keo này khi kéo tơ.

Nếu kén cắn tổ, không thể ươm tơ được thì người ta kéo thành sợi đũi. Cách kéo sợi đũi như sau: Kén đem ngâm nước 3 giờ, vắt sạch nước (nước ngâm và vắt từ nước kén ra gọi là nước cốt, nước này phải giữ lại để sau ngâm kén lần nữa). Bỏ kén vào nồi đun sôi vài phút, thấy kén thâm đều là được. Kén luộc xong, vắt kiệt nước thả vào nồi nước cốt, ngâm một đêm thì kén chín, kén chín vừa kéo trơn và nhẹ tay. Người kéo sợi ngồi trên ghế thấp, trước một cái chậu sành đầy nước và kén, hai tay ngâm trong nước để kéo sợi. Kéo xong một mẻ, người ta dùng giằng sợi cuộn lại thành từng con, cho lên sào phơi. Thành phẩm này được dệt thành lụa đũi. Lụa đũi to, xốp, mềm, nhẹ. Riêng tơ nõn sẽ được se với nhau, tùy theo tính chất, số lượng sợi và vòng xoắn để mắc cửi rồi dệt thành các loại hàng vải khác nhau.

Tơ tằm được cuộn lại thành những nén tơ hoặc ống tơ. Tùy theo chất lượng tơ, cách xử lý sợi tơ và cách xoắn sợi tơ, sẽ cho ra những loại tơ với tên gọi và chất lượng khác nhau.

Sợi mốt: Là sợi tơ to, dùng để dệt dọc, dệt không bị đứt.

Sợi mành: Là sợi tơ nhỏ, dùng để dệt ngang, lụa đều, không bị chỗ dày chỗ mỏng.

Sợi đũi: Là sợi của kén cắn tổ, không ươm tơ được, xù xì, thô hơn.

Từ các sợi tơ trên, tùy theo cách dệt, người ta có được những loại tơ lụa khác nhau.

Kiểu dệt cổ truyền của Việt Nam là phối hợp, pha trộn các loại sợi dọc và ngang để tạo ra những mặt hàng khác nhau. Người thợ khi dệt phải dùng tay đưa, chân dận cùng lúc.

Dụng cụ dệt là khung cửi gỗ “”con cò””, dệt ra loại hàng vuông, thô, mỏng, chừng 40 hay 60cm. Con cò đặt ở trên và chính giữa khung dệt đế thẳng sợi, làm chuẩn cho cái go khỏi lệch. Những vuông lụa mới dệt xong gọi là lụa mộc, chỉ có màu trắng ngà hay vàng mỡ gà của tơ.

Theo phương pháp thủ công, lụa mộc được ngâm trong nước trà, nước trầu không, nhựa cây… rồi xả, nhuộm màu, phơi khô, nhuộm lại lần thứ hai để ra đúng màu sắc như ý muốn.

Màu nhuộm được pha chế với nguyên liệu hoàn toàn tự nhiên như hột dành dành (Gardenia augusta, tiếng Hán là Chi tử), lá bàng (Terminalia catappa, tiếng Hán là Lãm nhân thụ) than, gạch… Màu thông dụng là màu đen (thâm) và màu nâu. Người ta nhuộm nâu bằng củ nâu (Dioscorea cirrhosa – Evergreen yam). Củ nâu đem về, gọt vỏ, thái mỏng, giã cho chảy nhựa, đổ thêm nước mà nhuộm. Nhuộm vài nước thì được màu nâu non, nhiều nước thì có màu nâu già (nâu đậm). Nhuộm bằng củ nâu vừa bền màu lại vừa chắc sợi. Ngâm tơ vào nước bùn sẽ cho ra màu thâm – màu tam giang – gọi là màu nâu tím. Người ta còn dùng cánh kiến (một loại sâu ở mạn Sơn La, Lai Châu) để nhuộm màu nâu đỏ. Nếu để lụa mộc màu trắng, người ta chỉ cần chuôi (trụng nước sôi). Có nơi người ta còn dùng quả mặc nưa – giống như quả olive, khi chưa chín màu xanh, khi chín chuyển màu đen để nhuộm lụa đen, chẳng hạn lụa đen Tân Châu (lãnh Mỹ A).

Ngày nay, kỹ thuật nhuộm hiện đại đem lại cho lụa tơ tằm những màu sắc đa dạng và rực rỡ hơn, nhưng những màu sắc mộc mạc thiên nhiên vẫn được người Việt ưa thích.

Với sự tinh tế và sáng tạo không ngừng, các sản phẩm dệt từ tơ tằm của người Việt rất phong phú, đa dạng gồm lụa, là, gấm, vóc, vân, the, lĩnh, băng, sa, xuyến, đoạn, nhiễu, đũi, cấp, kỳ cầu…

Gấm: Nền dày, bóng. Nền gấm thường có hoa văn chữ triện hay chữ thọ với sắc màu tươi, sặc sỡ bằng kim tuyến, ngân tuyến được dệt như thêu. Một tấm gấm thường có nhiều màu, phổ biến là năm màu: xanh, đỏ, tím, vàng, trắng hay bảy màu, gọi là gấm ngũ thể hay thất thể. Do sợi ngang (tạo hoa nổi lên trên) và sợi dọc (tạo nền chìm ở dưới) đều được nhuộm màu nên khi có ánh sáng, đứng ở mỗi góc cạnh khác nhau, sẽ thấy gấm có các màu sắc khác nhau. Gấm có vẻ đẹp lộng lẫy, rực rỡ nên ngày xưa dân thường không được dùng, chỉ có vua, quan được dùng mà thôi. Vua mặc gấm vàng có hai rồng chầu mặt nguyệt hay hổ phù. Còn gấm may lễ phục cho các quan thường là gấm hoa tròn hay gấm hoa bạc.

Vân: Là mặt hàng xếp thứ nhì sau gấm. Hàng vân có nền lụa, mỏng, bao giờ cũng có hai kiêu hoa dệt trên một tấm vân: hoa nổi và hoa chìm. Hoa nổi bóng mịn, còn hoa chìm phải đưa lên ánh sáng mới thấy được. Đó là nét độc đáo của hàng vân, nhờ có hoa thủng như vậy, nên các áo lót bên trong sẽ nổi màu lên rất đẹp khi mặc áo ngoài may bằng vân. Vân được dùng để may áo dài mặc vào dịp hội hè, đình đám.

Lĩnh (lãnh): Sợi mịn, một mặt bóng, một mặt mờ do khi dệt đưa sợi dọc lên nhiều tạo nên sự bóng láng. Lĩnh thâm (đen) trơn rất thông dụng, dùng may váy, quần cho phụ nữ, ngoài lĩnh trơn còn có lĩnh hoa dầy dặn, điểm lấm tấm hoa mịn màng, kín đáo, có tên riêng là lĩnh hoa chanh, nổi tiếng nhất là lĩnh Bưởi đen nhánh, óng mượt.

Đoạn: Đoạn cũng được dệt theo cách thức của lĩnh, nhưng dày hơn, sợi dọc nhiều hơn cả gấm. Đặc biệt, sợi dọc, sợi ngang nổi đều nhau, mịn màng, óng ả. Đoạn dùng để may áo dài cho nam giới mặc vào những dịp long trọng. Do hàng đoạn dày nên người ta thường may áo đoạn bọc lụa bên trong mặc vào mùa lạnh.

Vóc: Là một thứ đoạn mỏng, có hoa, dệt bằng sợi đồng màu, dùng làm tán thờ thần hay may y phục cho vua chúa, quan lại. Vóc thường đi chung với gấm: gấm vóc.

The: Sợi dệt bóng và mảnh, sợi dọc rất ít nên the thưa. Dệt the là bố trí các sợi dọc và ngang không khít nhau, tạo nên hình thủng theo hàng ngang. The có nhiều loại: the đơn (mỏng), the kép (dầy) và the hoa. The được nhuộm thâm để may áo mặc bên ngoài, hay chuôi cho trắng để mặc mùa nóng, nổi tiếng nhất là the La Cả. Đối với dân thường, áo the được coi là sang và rất phổ biến. Những hàng the dùng may y phục tế lễ gọi là hàng địa, thường có hoa văn đặc biệt như song hạc, hổ phù, thủy ba gợn sóng.

Sa, xuyến, băng cũng tựa như the, là các loại hàng mỏng, bóng và bền vì khi giặt không bị xô dạt sợi, dù mỗi mặt hàng mỗi vẻ khác nhau:

Sa: Sa được dệt rất mỏng nên trong suốt, tạo nên những đường vân óng ánh rất đẹp nếu mặc áo trong màu trắng. Sa mỏng và mát nên thường được mặc vào mùa hè. Có sa đơn và sa hoa. Sa hoa có nhiều loại: đặc biệt là sa thất thể và sa cung đinh (dùng may áo long bào cho vua mặc vào mùa nóng).

Xuyến (quyến): Xuyến như sa, có cát nổi ngang, mỏng hơn the trơn và thoáng trông tựa mành mành do sợi dầy xen lẫn sợi thưa.

Băng: Cũng là mặt hàng thủng, trong suốt, có hoa lác đác, nhẹ hơn the.

Cấp: Mỏng gần giống như the, lượt và thường có hoa.

Lượt: Mặt hàng dệt thưa, mỏng, mịn, rất mềm, dùng may khăn, áo.

Lương: Có lương đơn và kép, dùng để may áo dài, làm khăn.

Lụa: Có hai loại: lụa trơn và lụa hoa, dệt bằng tơ nõn sao cho sợi dọc và sợi ngang khít với nhau, tạo nên vẻ mịn màng, óng ả và độ dày vừa phải.

Là: Cùng họ với lụa, dệt bằng tơ nõn, có những đường dọc nhỏ đều, thường được dùng làm khăn hay nhuộm màu để làm các phần đổi màu trong y phục.

Nhiễu: Là thứ lụa dệt bằng sợi đã se nên mặt nổi cát như hàng crêpe ngày nay, dùng làm khăn.

Kỳ cầu: Là thứ lụa bóng có hoa nhỏ, nền mịn và đều.

Đũi: Được dệt từ tơ trong cùng của kén tằm, hơi thô, cũng dày và bền như nái, nhưng mềm và mịn hơn. Đũi nguyên thủy óng màu vàng chín của kén tằm. Đũi có loại trơn, loại hoa và đũi thọ hỉ. Đũi mộc mạc, thoáng, mát mùa hè, ấm mùa đông, thường dùng may quần, áo và thắt lưng.

Sổi (chổi): Dệt bằng tơ gốc, thường dùng may yếm, khố, bao…

Nái: Được dệt bằng sợi kéo từ vỏ kén bên ngoài nên thớ to, có nhiều lông và sần, thường có màu vàng đậm, cứng nhưng rất bền. Nái dùng may quần, khăn, thắt lưng…

Ngày nay, với kỹ thuật dệt tiên tiến, khắc phục được khuyết điểm dễ nhăn, nhàu của tơ tằm, người ta đã sản xuất nhiều loại vải lụa tơ tằm khác nhau, phục vụ cho đủ mọi yêu cầu trang phục:

Chiffon: Lụa chiffon tơ tằm mỏng tang, trong mờ, mềm mượt, ấm áp, tinh tế, dùng để may váy, áo rất đẹp. Ngoài sản phẩm thông dụng là hàng màu trơn, hiện nay có rất nhiều mặt hàng lụa chiffon in hoa văn mới lạ và đẹp mắt với nhiều kích thước, thích hợp với nhiều loại trang phục.

Habotai: Đục nhẹ, mỏng, trơn mượt, rất mềm mại và mát dịu, tạo sự thoải mái dễ chịu khi sử dụng, nên lụa Habotai cũng được dùng để may áo mùa hè hoặc áo dây, áo ngủ.

Satin: óng ả, mềm mại, bóng đẹp, thấm mồ hôi, mát vào mùa hè, lại không tích điện dính sát vào người vào mùa đông.. Bên cạnh các màu trơn, lụa satin còn có nhiều hoa văn phong phú dùng để may áo cưới, trang phục thời trang và trang trí nội thất.

Twill: Có độ bóng vừa phải, dày dặn và độ rủ cao hơn lụa habotai mà vẫn mềm mại, mát rượi, phù hợp với mọi lứa tuổi, tạo cảm giác nhẹ nhàng thoải mái khi mặc, không gây khó chịu, kích thích da nên thích hợp với mọi trang phục thời trang.

Organza: Hơi cứng hơn Taffeta nhưng thưa và mỏng, thích hợp để may áo cưới, đầm dạ hội sang trọng.

Taffeta: Có độ bóng, độ cứng, “”đứng mình”” nhưng lại không bám da vào mùa đông nên phù hợp để may áo cưới, áo vest, áo khoác, váy ngắn, quần tây hay kết hợp với các loại chất liệu khác để may sản phẩm thời trang công sở, dạo phố.

Tussah: Còn gọi là “”đũi thô””, sản phẩm được dệt từ những sợi tơ thô của con tằm. Đũi có bề mặt hơi khô nhưng có độ bóng nhẹ nên thích hợp cho sản phẩm áo sơ mi nam, áo vest hoặc quần tây.

Jacquard: Mềm mại, nuột nà, óng ả. Bên cạnh màu sắc tươi trẻ, đa dạng, óng ánh đặc trưng của tơ tằm, các hoa văn phong phú trong kỹ thuật dệt hoa văn chìm đem lại sự lựa chọn đa dạng khi may áo dài, trang phục thời trang, trang trí nội thất.

Damash: Là loại vải dày dặn, có độ mềm vừa phải, mềm mại hơn Taffeta, nhưng có độ bóng và ánh màu như satin, với nhiều kiểu hoa văn lạ, thích hợp may áo vest, quần tây, áo dài, cravat…


Nguồn:


Sách “


Trang phục truyền thống của các dân tộc Việt Nam”, Nhà Xuất bản Văn hóa – Thông tin



TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG


tiếp tục đăng tải thông tin về các danh nhân, địa danh, tên đường phố, mốc son lịch sử, dân tộc Việt Nam khác trên địa bàn TP. Đà Nẵng.


Chi tiết các danh nhân, địa danh, tên đường phố, mốc son lịch sử, dân tộc Việt Nam khác,

Quý anh/chị vui lòng liên hệ đường dây nóng


0236 1022


để được cung cấp (cước gọi điện 200đ+/phút, KHÔNG THU PHÍ PHỤC VỤ).

TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG: (0236) 1022 hoặc *1022, miễn phí phục vụ  
1. Đường dây nóng tiếp nhận ý kiến phản ánh, góp ý của tổ chức, công dân.
2. Hướng dẫn, giải đáp quy định, chính sách, thông tin kinh tế – xã hội.
3. Hướng dẫn thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến.
4. Cung cấp thông tin về hỗ trợ doanh nghiệp; quy định, chính sách hỗ trợ Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
5. Cung cấp thông tin về du lịch, sự kiện Văn hóa – Thể thao.
6. Cung cấp dịch vụ Tổng đài CSKH, nhắn tin CSKH, truyền thông, sự kiện và các dịch vụ tư vấn khác…

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *