Vài nét về trang phục
Dân tộc Cơ Ho xưa kia không có nghề trồng bông dệt vải, nhưng qua trao đổi mua bán với các dân tộc khác trong vùng, họ mua sợi để dệt và cắt may những bộ y phục truyền thống. Khi không thể trao đổi vải, người Cơ Ho đã dùng vỏ cây rừng đập dập, ngâm xuống suối cho hết nhựa, gập đôi lại và lấy dây mây để khâu trang phục, thường là những kiểu áo chui đầu được khoét thủng tay, đàn bà Chơ Ro mặc váy.
Sau này, điều kiện sinh hoạt khá hơn, họ đã tự dệt vải để phục vụ nhu cầu mặc trong cộng đồng. Tuy nhiên nhìn chung, nghề dệt vải của người Cơ Ho chỉ dừng ở mức không chuyên và chỉ làm trong thời gian rảnh rỗi. Đấy cũng là một nghề mang tính phân công lao động theo giới tính và là điều kiện bắt buộc khi các cô gái chuẩn bị kết hôn.
Nguyên liệu dệt vải chủ yếu là sợi bông hoặc từ các loại cây phụ liệu khác được lấy từ núi rừng, ruộng rẫy. Cây bông được trồng ở vườn hoặc ven suối. Bông thu hái đem về phơi nắng cho cánh bung ra hết. Để làm bông tơi, sạch, người Cơ Ho tách hột, tiếp đến dùng đũa xe bông thành từng lọn nhỏ. Lọn bông kéo ra một đầu nối vào trục xa quay để kéo sợi (lambong), giống như công cụ kéo sợi của người Việt. Kéo xong sợi, người ta đem ngâm vào nồi cháo gạo nếp đã nấu nhừ, mục đích làm cho sợi dệt được bền chắc, không đứt giữa chừng. Sợi ngâm xong được lấy ra phơi khô, sau đó quấn vào cây quay để quấn lại thành cuộn chỉ lớn.
Màu nhuộm vải thường được lấy từ các loại củ, quả, lá cây trong rừng. Màu xanh lấy lá cây tơrung vò nát, ngâm trong ché khoảng một tuần, sau đó lấy ra nghiên mịn. Nước lá đông lại thành cục nhỏ, đồng bào mang phơi thật khô, lúc nhuộm lấy chất keo đó bỏ vào chậu, đổ nước vào hoà tan và ngâm sợi trong hai ngày. Màu xanh dương lấy từ lá cây chát (chàm be), màu đỏ lấy loại cỏ họ dền, phơi khô, nấu, lọc rồi nhuộm sợi, màu vàng lấy củ nghệ dại không giống với nghệ thường ăn, hạt quả cari còn gọi là quả nho để chế màu cam… Để màu nhuộm được bền, người ta hòa thêm bột vỏ sò và tro củ chuối vào dung dịch nhuộm.
Khi dệt, người phụ nữ ngồi duỗi thẳng chân trên sàn, hai chân đạp và giữ chặt một thanh chủ của khung dệt [gọi là đưng-pong) và một thanh chủ khác được dùng dây móc vào lưng người dệt để cổ định và kéo căng khung sợi. Các thanh khác tùy theo chức năng của chúng mà luồn rất khéo vào giữa giàn sợi…
Nhìn chung, y phục truyền thống ở các nhóm Cơ Ho khá thống nhất. Tính thống nhất này thể hiện trên nhiều bình diện, từ kiểu cách cắt may, chất liệu vải… cho đến bố cục và các mô-tip hoa văn trang trí. Trên những tấm vải thổ cấm của dân tộc Cơ Ho, nét độc đáo nhất chính là những họa tiết, hoa văn sinh động được người dệt gửi gắm bằng tất cả tâm hồn, tình cảm cũng như sự cảm nhận về thế giới tự nhiên, con người của mình. Đó có thể là các loại hoa văn kỷ hà, hình người, các loài muông thú và các vật dụng quen thuộc, gần gũi trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của bà con như: cầu thang nhà sàn, cổ nỏ, tua cây nêu, cán xà gạt, con thuyên, mắt chim công, vầng trăng, con bọ chè, cườm chim cu…
Trang phục truyền thống được các cô gái trong làng tự dệt và khâu. Sau này, người Cơ Ho không còn lưu giữ nghề trồng bông nữa mà họ mua sợi để dệt vải.
Nhìn chung, sự khác biệt trong trang phục truyền thống Cơ Ho chỉ dừng lại ở những đặc trưng phân biệt giới tính (nam, nữ), chưa có sự phân biệt trang phục người lớn và trẻ em, có chăng chỉ là sự khác biệt về kích cỡ, chưa có sự phân biệt trang phục mùa đông với mùa hè, trang phục thường nhật với lễ phục. Mặc dù giữa các nhóm Cơ Ho đã có sự phân hóa giàu nghèo ở một mức độ nhất định, song điều này chưa thể hiện qua trang phục, hay nói chính xác hơn, là chưa biểu hiện thông qua chất liệu vải và kiểu dáng y phục.
Người Cơ Ho có những quan niệm về vẻ đẹp rất giản dị, mộc mạc: Nam giới phải có thân hình vạm vỡ, chắc khỏe, màu da ngăm đen. Phụ nữ cũng phải toát lên nét khỏe khoắn như đôi tay khỏe và nhanh nhẹn, bắp chân to săn chắc, gò má cao, môi dày… nhưng đồng thời cũng thể hiện sự mềm dẻo, nữ tính như mắt to, lông mi cong, đen, tóc dài, cứng, một số ít có tóc xoăn.
Một tiêu chí đẹp theo quan niệm truyền thống của người Cơ Ho phải kề đến đó là hàm răng mài nhẵn đến tận lợi, kèm theo đó là lỗ tai được căng ra đến nỗi dái tai đứt ra thành 2 phần. Người nào trong buôn làng làm được điều đó đều được bà con tổ chức ăn mừng và được mọi người yêu mến, kính trọng, nếu là thanh niên nam nữ thì được nhiều người lựa chọn làm bạn tình. Cũng chính vì thế mà dù có đau đớn đến mấy họ cũng tự nguyện cà răng, căng tai cho phù hợp với quan niệm đẹp của dân tộc mình. Tới nay, tục “cà răng căng tai” không còn hiện diện trong cộng đồng người Cơ Ho nữa.
Nguồn: Sách “ Trang phục truyền thống của các dân tộc Việt Nam”, Nhà Xuất bản Văn hóa – Thông tin
TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG
tiếp tục đăng tải thông tin về các danh nhân, địa danh, tên đường phố, mốc son lịch sử, dân tộc Việt Nam khác trên địa bàn TP. Đà Nẵng.
Chi tiết các danh nhân, địa danh, tên đường phố, mốc son lịch sử, dân tộc Việt Nam khác,
Quý anh/chị vui lòng liên hệ đường dây nóng
0236 1022
để được cung cấp (cước gọi điện 200đ+/phút, KHÔNG THU PHÍ PHỤC VỤ).
TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG: (0236) 1022 hoặc *1022, miễn phí phục vụ
1. Đường dây nóng tiếp nhận ý kiến phản ánh, góp ý của tổ chức, công dân.
2. Hướng dẫn, giải đáp quy định, chính sách, thông tin kinh tế – xã hội.
3. Hướng dẫn thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến.
4. Cung cấp thông tin về hỗ trợ doanh nghiệp; quy định, chính sách hỗ trợ Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
5. Cung cấp thông tin về du lịch, sự kiện Văn hóa – Thể thao.
6. Cung cấp dịch vụ Tổng đài CSKH, nhắn tin CSKH, truyền thông, sự kiện và các dịch vụ tư vấn khác…


English