Trang phục của nam giới Kinh

0:00

Trang phục đàn ông các vùng miền tương tự như nhau. Đàn ông thuộc tầng lớp lao động miền Bắc, miền Trung thường mặc quần áo bằng vải Đồng Lầm nhuộm nâu. Áo cánh ngắn, bốn thân cài cúc giữa hay năm thân cài cúc bên, cổ tròn đứng, vuông góc. Quanh cổ có lót (ở phía trong áo) một miếng vải trùm một phần vai, lưng, ngực gọi là cổ lá sen, có tác dụng làm cứng vai áo và lâu rách do vai thường bị cọ xát nhiều (do gánh, vác). Gấu áo, gấu tay viền to hơn áo phụ nữ. Hai vạt trước có hai túi. Đặc biệt, ở miền Trung có loại áo lác được đan bằng sợi cỏ lác phơi khô, mặc khi giá rét. Áo là một hình chữ nhật gập đôi, giữa khoét miếng tròn làm cổ áo. Khi mặc, chui đầu qua cổ áo, buộc một sợi dây ngang bụng, giữ cho hai vạt áo trước và sau sát vào người.

Quần nam giới là loại quần lá tọa – may rộng, đũng thấp, ống thẳng. Khi mặc, thắt dây lưng ra ngoài cạp rồi kéo cạp lên hoặc xoắn cạp làm cho ống quần cao lên. Lúc lao động có thể vén ống quần lên quá bắp chân, xoắn gọn lại (gọi là quần xắn móng lợn). Cũng có thể mặc quần đùi (quần cụt) cho thuận tiện.

Tóc đàn ông để dài như tóc đàn bà, búi cao lên phía sau đỉnh đầu. Người lao động chít khăn đầu rìu. Khăn là miếng vải vuông, mỗi chiều 40cm – 50cm. Gập chéo khăn lại thành hình tam giác, góc giữa để về phía sau gáy, hai góc cạnh buộc với nhau phía trên trán, có tác dụng giữ búi tóc phía sau và để tóc phía trước không xoã xuống mặt. Nhiều người chỉ quấn trên đầu một vòng khăn sơ sài bằng dải vải dài cuộn xoắn lại.

Đàn ông lao động thường đi chân đất. Khi có việc đi đâu hoặc buổi tối rửa chân mới xỏ đôi guốc gỗ một quai ngang hay hai quai chéo. Người già đi guốc mũi cong.

Ở miền Nam, quần áo nam giới phổ biến may bằng vải đen rộng rãi theo kiểu bà ba. Áo bốn thân, cổ đứng, cài khuy giữa, ống tay rộng, quần mặc như quần lá tọa miền Bắc.

Ở thành thị, có thời gian những người kéo xe tay, trong mặc áo cánh trắng cháo lòng, ngoài mặc áo cánh bốn thân viền nẹp màu, rộng bản ở cổ áo, cổ tay áo, gấu áo, cạnh tà áo… thường không cài cúc. Người nghèo mặc áo bằng vải gai cộc tay, hở nách, thân áo ngắn hở cả lưng… Mùa rét, đa số phải quàng khố tải.

Nhìn chung, khi có việc tới những chỗ quan trọng (chốn đình trung), nam giới mới mặc áo dài the đen, quần ống sớ (ống thẳng, đũng cao). Riêng các nhà nho và những người có địa vị trong xã hội ngày thường cũng mặc áo dài, đội khăn lượt.

Trang phục ngày lễ, ngày tết của đàn ông rất đơn giản. Đàn ông miền Bắc, miền Trung thường mặc quần lá tọa, áo năm thân ngắn bằng vải màu trắng, người giàu mặc áo lụa tơ tằm màu vàng hoặc đũi màu ngà, thắt lưng nhiễu tím tam giang, hồng điều, hay xanh lục… ở trong áo, dải thắt lưng buông rủ một đoạn ngắn phía trước. Nếu mặc áo dài the thâm, họ thường mặc thêm áo dài trắng bên trong, đôi khi họ mặc áo the màu nâu hay màu xanh lam, cổ áo cao, đứng, vuông góc. Áo the may năm tà, khi cài cúc, vạt trước đè lên vạt nhỏ bên trong tạo nên màu sẫm làm thành hai mảng đậm nhạt khác nhau. Đi hội, họ buộc thắt lưng màu ra ngoài áo the, bỏ bên cạnh sườn. Những người có chức tước hoặc giàu có trong xã hội thường mặc áo dài may bằng gấm (có hoa văn chữ thọ), vóc, đoạn, sa tanh, sa trơn.

Từ 1925 trở về sau, đàn ông thành thị miền Bắc vào mùa nắng chỉ mặc một áo dài trắng, mùa rét mặc loại áo dài bằng dạ khoác ngoài, theo kiểu phương Tây gọi là ba- đơ-xuy (pardessus), quấn khăn phu-la (foulard) quanh cổ. Những người có chức sắc ở nông thôn như chánh tổng, lý trưởng… thường mặc áo the đen dài, khoác thêm áo vét- tông (veston) ra ngoài. Đàn ông thường đi văn hài là loại giày đế cao bằng giấy bổi cứng, mũi giày bằng vải nhung hay bằng vóc màu đen hoặc màu lam, khum kín các ngón chân và hai cạnh bàn chân, thêu hình rồng hoặc hình hoa lá nhiều màu. Ngoài ra, còn có loại hài bằng da dê núi, bịt gót, giày hạ (giày bằng da, có mũi che phần trên các ngón chân), ủng (giày có cổ cao) … những thứ này chủ yếu là của tầng lớp trên.

Đàn ông miền Nam mặc quần áo bà ba trắng. Người nhiều tuổi cũng mặc áo dài trắng bên trong, áo dài đen bên ngoài, cổ đứng, chân đi giày da láng (mũi giày bằng da sơn đen bóng), giày guốc (đế bằng gỗ, mũi trên bằng da), giày cóc (trông giống đầu con cóc) hoặc đi guốc gỗ một quai v.v…

Những người còn để tóc dài thường quấn khăn lượt đen. Gọi là khăn lượt vì chất liệu là loại vải lượt (sau thay bằng loại vải mềm khác như nhiễu, là màu tím tam giang), dài trên 2m, rộng 30cm, gập đôi (có khi gập ba) theo chiều dài, quấn nhiều vòng trên đầu. Khi chít khăn, hai nếp khăn đầu trong cùng xếp chéo lên nhau, chữ nhân được tách cách xa những nếp vòng quẩn lên cao, cũng có khi họ quấn khăn thành nhiều vòng, quấn bè ra và cao lên làm thành một tầng khác.

Nón của đàn ông đa phần có hình chóp, có người đội nón chỏm bằng, khum cạnh hình quả bứa cắt ngang gọi là nón quả bứa. Nón miền Bắc, miền Trung làm bằng lá gồi, miền Nam làm bằng lá dừa… Quai nón đơn giản làm bằng vải sợi dây mây, dây vải, nếu sang trọng làm bằng lụa bạch, thao đen…

Nhìn chung, trang phục của người dân trong sinh hoạt và lao động hàng ngày cả một giai đoạn dài hầu như định hình, ít thay đổi. Bước vào thời kỳ thuộc Pháp, trang phục đã có sự cách tân, biến đổi. Sự tiếp xúc văn hoá giữa phương Đông và phương Tây đã tác động nhiều mặt tới sự phát triển văn hoá nước ta, trong đó trang phục là một trong những biểu hiện rất rõ nét. Trang phục của người Kinh thời kỳ này tiếp nhận những nhân tố mới của phương Tây về cách ăn mặc, nhất là ở thành thị – nơi giao lưu nhiều, còn ở nông thôn, trang phục trong lao động về cơ bản không có gì thay đổi.

Ở thành thị đã có những thay đổi căn bản trong cách ăn mặc, trang phục của nam giới tiếp thu kiểu mặc châu Âu: áo sơ mi, quần âu, áo vét tông, cà vạt, mũ phớt, giày da bắt đầu xuất hiện.

Từ năm 1910, nhiều đàn ông (nhất là thanh niên thành thị) đã cắt tóc ngắn nhưng vẫn quấn khăn lượt. Ra đường họ dùng ô màu trắng hay đen, thường gọi là ô cánh dơi (vì khi giương ô lên, hình bộ gọng và vải ô giống cánh con dơi).

Những năm 1930, phong trào cắt tóc ngắn, rẽ ngôi lệch phát triển rầm rộ. Những người đứng tuổi mặc áo dài, đội khăn xếp, hình thức như khăn quấn, nhưng được làm sẵn, khi cần chỉ chụp lên đầu như đội mũ, rất tiện lợi, không mất thì giờ quấn nhiều vòng như trước. Khăn xếp ở miền Bắc vẫn còn hình chữ nhân ở trước trán, miền Trung là hình lưỡi trai.

Thời kỳ này, có một tầng lớp mới xuất hiện – đó là những người đi làm (viên chức). Ngoài trang phục dân tộc như áo the khăn xếp, họ còn mặc Âu phục gồm quần tây, áo sơ mi, áo gi-lê, áo vét-tông, cà vạt. Ngoài com-lê, họ còn mặc các loại áo khác như va-rơi, blu-dông…, chân đi giày Tây bằng da đen, đội mũ phớt, mũ cát két bằng dạ, bằng vải… Mùa hè, tầng lớp viên chức đi giày hai màu “đơ cu-lơ” (deux couleurs), đội mũ cát (casque) trắng… Mũ cát làm bằng li-e hay bằng dút, ngoài bọc vải rồi quét sơn trắng. Mũ cát trắng có loại rộng vành, có loại hẹp vành, có loại tròn, có loại hơi hình bầu dục, chỏm bằng.

Sau cách mạng tháng Tám 1945, trang phục đàn ông ở thành thị được Âu hoá khá nhanh, ở nông thôn còn phải trải qua một quá trình lâu hơn mới có sự thay đổi căn bản. Sau kháng chiến chống Pháp, mối quan hệ thành thị, nông thôn trở nên hoà đồng. Nhiều thanh niên nông thôn bắt đầu mặc áo sơ mi, quần Âu, trong khi đó nhiều cán bộ xuất thân ở thành thị cũ đã thường xuyên mặc quần áo nâu để dễ thâm nhập vào quần chúng nông thôn.

Ở miền Bắc, từ năm 1954, đàn ông hay mặc áo vải ka ki đại cán, bốn túi. Mùa hè họ mặc sơ mi cộc tay, may thẳng, không bó, cổ hai ve. Khi mặc thường bỏ ra ngoài quần cho đỡ nóng. Có thời kỳ ống tay và thân áo rộng, sau đó ống tay và thân áo được may hẹp lại, trông gọn và khỏe. Áo sơ mi dài tay, mùa hè khi mặc họ hay xắn lên trên hay dưới khuỷu tay. Đàn ông cao tuôi vẫn mặc bộ quần áo cánh ta màu nâu, màu xanh hay trắng hoặc kiểu áo sơ mi ba túi, cố hai ve.

Mùa rét, họ mặc áo ka ki có hai túi chéo, màu tím than, vỏ áo trùm ra ngoài một nền bông trần ô vuông, phù hợp với cuộc sống lao động thời chiến. Khi áo bẩn, chỉ việc tháo vỏ ngoài ra giặt. Đàn ông thường đi dép bằng lốp ô tô (dép cao su đen) vì tiện lợi và rẻ tiền.

Đàn ông nhiều tuổi vùng tạm chiếm mặc áo dài the, áo sa tanh đen hay màu lam, áo gấm hoa hay chữ thọ v.v…; quần trắng ống sớ; đầu đội khăn xếp, đi giày da láng hay giày da đen, một số mặc Âu phục. Đàn ông trung niên, thanh niên mặc sơ mi, áo vét tông, thắt cà vạt, quần Âu (thường là màu sáng), đi giày da hoặc xăng đan, cắt tóc ngắn, rẽ ngôi cạnh, chải mượt, đội mũ cát, mũ lưỡi trai.

Thời gian này ở nông thôn miền Nam, ngoài quần áo bà ba, nhiều người đã mặc sơ mi. Trong các thành phố bị tạm chiếm, đặc biệt là Sài Gòn, hầu hết đàn ông đều mặc sơ mi, vét-tông, quần Âu may bằng nhiều loại vải, nhiều màu sắc, chân đi giày tây, xăng đan, săm-pô, dép nhựa các kiểu, đầu đội mũ nhựa trắng, mũ phớt, mũ lưỡi trai… bằng da hay vải.

Mốt thời trang châu Âu tràn ngập miền Nam, được thanh niên hưởng ứng nhanh chóng, áo sơ mi chiết ly các loại, áo thun, áo phông trước ngực và sau lưng in hình người, phong cảnh hay in các dòng chữ. Theo phong trào “híp-py”, một số nam thanh niên mặc áo bằng vải xô, may gần giống kiểu áo cánh rộng, cổ tròn trễ xuống ngực, xẻ tà, gấu dài quá mông, thêu o ngực, cưa tay và gấu áo, quần bò “zin” sờn, bạc màu, đi guốc gỗ to, mũi bịt, gót hở, đế cao từ 5cm – 9cm, xung quanh đóng đinh mũ bằng kim loại hoặc sơn xanh, đỏ với hình vuông, tròn hoặc bầu dục. Tai và cổ của họ đeo vòng đồng to, tóc chấm vai, để râu các kiểu.

Từ năm 1975 đến nay, đa số đàn ông mọi lứa tuổi trong cả nước đều mặc quần Âu. Có thời kỳ một số thanh niên mặc quần ống bó khoảng 15cm (ống tuýp). Những năm 1970-1980, một số thanh niên mặc quần ống loe từ 30cm đến 70cm. Năm 1982, mốt quần Âu lại trở về dạng ống “tuýp”, quần bó ống, bó mông và bó đùi may bằng loại vải bò, ka ki trắng hoặc nhung kẻ, có túi nổi sau mông, đính nhiều khuy bằng đồng… Một số chi tiết của quần Âu thời kỳ này có sự thay đổi, như ly lật vào trong hoặc ra ngoài, đỉa to, nhỏ ở cạp, túi thẳng, túi chéo. Đàn ông khi mặc quần đều dùng thắt lưng. Thắt lưng bằng ni lông, bằng vải, bằng da rộng từ 2cm – 8cm, khoá bằng kim loại với nhiều hình tròn vuông, bầu dục, chữ nhật, có họa tiết hoặc chữ…

Áo nam giới thường, là áo sơ mi, tay măng-sét to bản. Có loại áo chiết ly, gấu áo lượn, vạt ôm lấy mông (áo đuôi tôm), có loại áo không may cầu vai hoặc có câu vai, có hai nếp ly hoặc không có ly. Ngoài ra, còn có áo phông, áo dệt kim v.v… phong phú về màu sắc, đa dạng về kiểu may, có khi nam giới còn mặc áo hoa, loại vải mỏng…

Mùa đông cũng như những ngày lễ, ngày hội, đàn ông thành thị mặc com-lê các màu… đeo cà vạt. Cà vạt có thời gian rất nhỏ làm bằng vải pha ni lông, nay lại rất to làm bằng các loại vải hoa. Ngoài com-lê, họ còn mặc áo vét-tông ve to, nhỏ, ve nối, ve liền, ve nhọn, ve xếch, ve đăn-tông, hai vạt áo phía trước thẳng hoặc tròn, có loại vét-tông xẻ hai đường nhỏ ở gấu áo hai bên mông và nhiều kiểu áo rét khác như măng-tô bằng dạ, áo mút, áo bay, áo blu-dông bằng da, áo len dệt, đan các kiểu v.v…

Ở nông thôn, mùa rét một số người vẫn mặc áo bông hoặc áo va-rơi bằng dạ.., đi dép cao su đen có hai quai chéo phía mũi dép và hai quai ngang đằng sau, dép cao su cải tiến đế cao từ 3cm – 7cm, có hai quai chéo như xăng đan, xăng đan bằng da, đế da hay đế kếp, dép nhựa hoặc săm pô các loại, giày tây, giày ba-ta, bát-kết thường được sử dụng.

Nhìn chung, trang phục của đàn ông trong cả nước không thấy còn sự cách biệt giữa các tầng lớp như trong xã hội cũ nữa.


Nguồn:


Sách “


Trang phục truyền thống của các dân tộc Việt Nam”, Nhà Xuất bản Văn hóa – Thông tin



TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG


tiếp tục đăng tải thông tin về các danh nhân, địa danh, tên đường phố, mốc son lịch sử, dân tộc Việt Nam khác trên địa bàn TP. Đà Nẵng.


Chi tiết các danh nhân, địa danh, tên đường phố, mốc son lịch sử, dân tộc Việt Nam khác,

Quý anh/chị vui lòng liên hệ đường dây nóng


0236 1022


để được cung cấp (cước gọi điện 200đ+/phút, KHÔNG THU PHÍ PHỤC VỤ).

TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG: (0236) 1022 hoặc *1022, miễn phí phục vụ  
1. Đường dây nóng tiếp nhận ý kiến phản ánh, góp ý của tổ chức, công dân.
2. Hướng dẫn, giải đáp quy định, chính sách, thông tin kinh tế – xã hội.
3. Hướng dẫn thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến.
4. Cung cấp thông tin về hỗ trợ doanh nghiệp; quy định, chính sách hỗ trợ Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
5. Cung cấp thông tin về du lịch, sự kiện Văn hóa – Thể thao.
6. Cung cấp dịch vụ Tổng đài CSKH, nhắn tin CSKH, truyền thông, sự kiện và các dịch vụ tư vấn khác…

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *