Sau khi được tin quân Pháp nổ súng xâm lược, triều Nguyễn liền điều 2.000 quân đến Đà Nẵng chi viện, nhưng không ngăn được thế giặc. Sau đó, tướng Nguyễn Tri Phương được tin cậy giao trách nhiệm tổng chỉ huy mặt trận Quảng Nam để chống giặc. Quân Pháp giằng co với quân ta suốt hơn 5 tháng mà không thu được thắng lợi nào.
Tháng 02/1859, quân Pháp quyết định chuyển hướng, kéo vào Nam đánh chiếm Gia Định. Sáng ngày 17/02/1859, quân Pháp tấn công thành Gia Định. Quân nhà Nguyễn chống trả quyết liệt. Dựa vào ưu thế hỏa lực, quân Pháp tấn công càng lúc càng dữ dội. Trưa ngày 17/02/1859, thành Gia Định thất thủ.
Nhân dân Gia Định tự động đứng lên chống giặc và gây cho quân Pháp nhiều thiệt hại. Quân Pháp ở nước ta gặp nhiều khó khăn do không có viện binh, một bộ phận của chúng còn bị điều sang chi viện cho cuộc chiến ở Trung Quốc. Tại Sài Gòn, 1.000 quân Pháp phải rải ra đóng giữ trên một chiến tuyến dài 10km.
Vể phía quân nhà Nguyễn, Nguyễn Tri Phương tiếp tục được cử làm tổng chỉ huy mặt trận Gia Định. Ông không chủ động tấn công Pháp mà huy động quân dân ngày đêm xây dựng đại đồn Chí Hòa nhằm ngăn không cho giặc mở rộng chiếm đóng về phía tây.
Một thời gian sau, quân Pháp sau khi dàn xếp tình hình ở Trung Quốc, liên huy động lực lượng tấn công quân nhà Nguyễn. Ngày 24/12/1861, 3.500 quân Pháp công phá đại đồn Chí Hòa, nơi có hơn 20.000 quân nhà Nguyễn đang đóng giữ.
Quân ta chiến đấu rất anh dũng, nhưng không thể chống chọi với hỏa lực của giặc. Nguyễn Tri Phương bị thương, em trai ông là tướng Nguyễn Duy tử trận. Quân ta phải rút chạy. Đầu năm 1862, ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Gia Định, Định Tường, Biên Hòa) và một tỉnh miền Tây Nam Kỳ (Vĩnh Long) rơi vào tay giặc. Triều Nguyễn hốt hoảng vội điều đình và chấp nhận ký với Pháp bản Hiệp ước ngày 05/6/1862 (Hiệp ước Nhâm Tuất). Hiệp ước năm 1862 có nội dung chính là triều Nguyễn phải nhượng hẳn cho Pháp ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ và đảo Côn Đảo; mở các cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng Yên cho Pháp tự do buôn bán; bồi thường chiến phí cho Pháp…
Sau Hiệp ước năm 1862, triều Nguyễn muốn điều đình với Pháp để chuộc lại ba tỉnh đã mất, nhưng Chính phủ Pháp không chấp nhận mà còn chuẩn bị mọi mặt để chiếm nốt ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ.
Năm 1867, lấy cớ triều Nguyễn vẫn bí mật ủng hộ phong trào kháng chiến ở miền Đông Nam Bộ, thực dân Pháp đã gửi thư buộc quan lại ở các tỉnh miền Tây phải giao thành cho chúng. Trước áp lực của thực dân Pháp, đại diện triều Nguyễn ở ba tỉnh miền Tây và đang trực tiếp chỉ huy thành Vĩnh Long là Phan Thanh Giản đã buộc phải giao thành. Phan Thanh Giản còn lệnh cho hai thành An Giang và Hà Tiên làm theo. Thực dân Pháp dễ dàng chiếm được toàn bộ ba tỉnh miền Tây.
Chiếm được Nam Kỳ, thực dân Pháp ra sức củng cố bộ máy cai trị nhằm biến nơi đây thành bàn đạp xâm chiếm cả nước ta. Triều Nguyễn vẫn không dám hành động mạnh, chỉ muốn thương thuyết để lấy lại đất đã mất.
Năm 1872, thực dân Pháp cho tên lái buôn Đuypuy ra Bắc, tiến hành các hoạt động gây rối và khiêu khích. Nhà Nguyễn không dám đối phó mạnh tay, lo ngại sẽ ảnh hưởng đến việc đàm phán chuộc lại Nam Kỳ. Nhà Nguyễn còn nhờ người Pháp giải quyết giúp việc Đuypuy. Không thể chờ thời cơ tốt hơn, Đại úy Gácniê vội đem quân từ Nam Kỳ đường hoàng tiến ra Bắc Kỳ.
Tháng 11/1873, vừa đến Hà Nội, Gácniê sau khi hội quân với Đuypuy đã lộ rõ bộ mặt xâm lược. Ngày 20/11/1873, chúng nổ súng đánh thành Hà Nội. Nguyễn Tri Phương lúc đó đang giữ chức Tổng đốc Hà Nội, đã chỉ huy quân đánh trả rất kiên cường, nhưng vẫn không giữ được thành. Thành bị mất, Nguyễn Tri Phương trúng đạn bị thương và bị Pháp bắt. Con trai ông là Phò mã Nguyễn Lâm tử trận. Rơi vào tay giặc, Nguyễn Tri Phương đã nhịn ăn mà chết để bảo toàn khí tiết.
Trong vòng một tháng sau đó, các tỉnh đồng bằng sông Hồng lần lượt rơi vào tay Pháp.
Trước tình hình đó, một số quan lại có tinh thần yêu nước đã tập hợp quân sĩ, hô hào Nhân dân cùng nổi dậy đánh giặc. Phong trào phát triển mạnh khiến quân Pháp rất lo lắng. Ngày 21/12/1873, Gácniê kéo quân lên Sơn Tây nhằm tiêu diệt lực lượng kháng chiến. Vừa đến Cầu Giấy (Hà Nội), chúng rơi vào trận địa phục kích của ta. Gácniê bị giết chết.
Thất bại ở Cầu Giấy khiến quân Pháp vô cùng lo sợ, chỉ muốn rút chạy. Nhưng trái với sĩ khí đang lên của quân dân yêu nước, triều Nguyễn lại buộc các đội quân kháng chiến phải rút lên Sơn Tây để tránh ảnh hưởng đến cuộc đàm phán.
Sự bạc nhược của triều Nguyễn đã khiến Pháp được nước lấn tới. Chúng buộc triều Nguyễn phải ký Hiệp ước ngày 15/3/1874 (Hiệp ước Giáp Tuất) với nội dung chính là: Triều Nguyễn thừa nhận chủ quyền của Pháp ở sáu tỉnh Nam Kỳ; phải mở các cảng Thị Nại (Bình Định), An Hải (Hải Phòng), Hà Nội và sông Hồng cho Pháp tự do đến buôn bán, mở nhà xưởng và đặt lãnh sự quán; triều Nguyễn không được ký hiệp ước thương mại với nước khác trái với lợi ích của Pháp mà không cho Pháp biết.
Năm 1882, thực dân Pháp lấy cớ triều Nguyễn vi phạm Hiệp ước năm 1874 để điều thêm quân ra Bắc. Tháng 4/1882, quân Pháp do Đại tá Rivie thống lĩnh đến Hà Nội. Sáng ngày 25/4/1882, Rivie thúc quân đánh thành. Thành Hà Nội thất thủ nhanh chóng. Tổng đốc Hoàng Diệu viết di biểu bằng máu gửi triều đình rồi dùng khăn lụa tuẫn tiết.
Trước tình hình đó, triều Nguyễn đã cầu cứu nhà Thanh. Nhà Thanh liền đưa quân vào nước ta nhưng lại bí mật thương lượng với Pháp để chia chác quyền lợi. Mặt khác, triều Nguyễn lệnh cho quân đội phải rút quân lên mạn ngược, các đội nghĩa binh tự phát phải giải tán để thuận lợi cho việc điều đình về sau.
Thực dân Pháp được thế càng hung hăng hơn. Đến tháng 3/1883, phần lớn các tỉnh lớn ỏ Bắc Kỳ đều bị Pháp chiếm.
Cũng như lần trước, Nhân dân Hà Nội nói riêng và Bắc Kỳ nói chung lại vùng lên đánh đuổi kẻ thù. Trong trận Cầu Giấy lần thứ hai (19/5/1883), quân ta đã giết chết Rivie. Trong bối cảnh đó, triều Nguyễn không chớp lấy cơ hội để động viên quân dân xông lên giết giặc mà vẫn hy vọng thương thuyết để lấy lại Hà Nội.
Giữa lúc ấy, tháng 7/1883, vua Tự Đức mất. Thực dân Pháp liền cho quân đánh thẳng vào cửa biển Thuận An, sát kinh đô Huế. Triều Nguyễn hốt hoảng vội cử người đến xin đình chiến. Thực dân Pháp liền buộc triều Nguyễn ký kết một hiệp ước mới với các điều khoản vô cùng bất lợi.
Hiệp ước được ký ngày 25/8/1883 (còn gọi là Hiệp ước Hácmăng, Hiệp ước Quý Mùi) có nội dung chính là thừa nhận quyền “bảo hộ” của Pháp ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ; ba tỉnh Thanh – Nghệ – Tĩnh của Trung Kỳ bị cắt về Bắc Kỳ, tỉnh Bình Thuận của Trung Kỳ bị cắt về Nam Kỳ; địa bàn cai quản của triều Nguyễn chỉ còn từ Đèo Ngang (Quảng Bình) đến Khánh Hòa; đại diện chính quyền bảo hộ Pháp ở Trung Kỳ (Khâm sứ) có quyền gặp nhà vua bất cứ lúc nào; các công sứ ở các tỉnh Bắc Kỳ được quyền giám sát quan lại của triều đình, được nắm việc giữ gìn trị an và nội vụ; Pháp nắm quyền ngoại giao thay cho triều Nguyễn.
Bất chấp sự đầu hàng của triều đình, quân và dân Bắc Kỳ vẫn tiếp tục kháng chiến. Nhưng lúc này, quân Pháp càng mạnh thêm. Chúng đã lần lượt đánh bại các cuộc phản kháng của quân và dân ta. Quân Pháp tiến đến đâu, quân Thanh rút đến đó vì hai bên Pháp – Thanh đã ký hiệp ước về việc quân Thanh rút hết khỏi Bắc Kỳ.
Ngày 06/6/1884, thực dân Pháp buộc triều Nguyễn ký bản hiệp ước mới (gọi là Hiệp ước Patơnốt hay Hiệp ước Giáp Thân). Hiệp ước Patơnốt về cơ bản giống với Hiệp ước Hácmăng nhưng trả lại cho triều Nguyễn các tỉnh Thanh – Nghệ – Tĩnh và Bình Thuận để xoa dịu chính quyền phong kiến nhà Nguyễn.
Với hai bản hiệp ước 1883 và 1884, triều Nguyễn đã hoàn toàn đầu hàng kẻ thù. Sau hơn 30 năm tiến hành chiến tranh xâm lược (1858-1884), thực dân Pháp đã chiếm được toàn bộ nước ta. Một thời kỳ đất nước bị mất độc lập mới, còn gọi là thời kỳ Pháp thuộc, chính thức bắt đầu và kéo dài cho đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đánh đuổi thực dân Pháp, khôi phục độc lập cho non sông lúc này trở thành mục tiêu mà cả dân tộc ta cùng hướng đến.
Tài liệu tham khảo: Những điều cần biết về lịch sử Việt Nam (Hỏi – đáp) (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật).
TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG tiếp tục đăng tải Những điều cần biết về lịch sử Việt Nam (Hỏi – đáp).
Chi tiết các câu hỏi – trả lời khác, Quý anh/chị vui lòng liên hệ đường dây nóng 0236 1022 để được cung cấp (cước gọi điện 200đ+/phút, KHÔNG THU PHÍ PHỤC VỤ).
TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG: (0236) 1022 hoặc *1022, miễn phí phục vụ
1. Đường dây nóng tiếp nhận ý kiến phản ánh, góp ý của tổ chức, công dân.
2. Hướng dẫn, giải đáp quy định, chính sách, thông tin kinh tế – xã hội.
3. Hướng dẫn thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến.
4. Cung cấp thông tin về hỗ trợ doanh nghiệp; quy định, chính sách hỗ trợ Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
5. Cung cấp thông tin về du lịch, sự kiện Văn hóa – Thể thao.
6. Cung cấp dịch vụ Tổng đài CSKH, nhắn tin CSKH, truyền thông, sự kiện và các dịch vụ tư vấn khác…


English