TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG
–
0236 1022
kính gửi đến Quý anh/chị thông tin về danh nhân Nguyễn Xuân Lâm
NGUYỄN XUÂN LÂM (1919-1996), ông là nhà hoạt động cách mạng, quê xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Từ tháng 2-1937 đến tháng 10-1939, ông tham gia hoạt động cách mạng chống thực dân Pháp, vào Đoàn thanh niên Dân chủ tại trường Kỹ nghệ thực hành Huế.
Năm 1939, ông chuyển vào hoạt động tại Đà Nẵng, được đồng chí Huỳnh Ngọc Huệ giới thiệu vào Đảng năm 1939 tại Chi bộ Hỏa xa Đà Nẵng. Từ tháng 11-1939 đến năm 1942, hoạt động tại Hỏa xa Đà Nẵng, tham gia phong trào công nhân Hỏa xa, góp phần đẩy mạnh phong trào tại khu Tây Đà Nẵng và ngành hỏa xa khu vực Trung kỳ.
Từ năm 1943 đến năm 1945, ông là Thành ủy viên Đà Nẵng, phụ trách công tác chính trị, phụ trách công binh xưởng tại Quảng Nam – Đà Nẵng, là Ủy viên Mặt trận cứu quốc Việt Minh. Tháng 6-1945, Thành Bộ Việt Minh (Đà Nẵng) được thành lập và cử ra Ban Chấp hành (thực chất là Ban lãnh đạo khởi nghĩa), gồm 7 thành viên, (Huỳnh Ngọc Huệ, Nguyễn Trác, Lê Văn Quý, Nguyễn Thị Phi, Nguyễn Xuân Lâm, Nguyễn Văn Tôn, Lê Văn Mậu), chuẩn bị cuộc khởi nghĩa ở thành phố Đà Nẵng.
Sau khi giành chính quyền, từ tháng 9-1945 đến tháng 6-1946, ông là Ủy viên Ủy ban nhân dân cách mạng, Thành ủy viên lâm thời, Bí thư Công vận Đà Nẵng, phụ trách lao động kỹ nghệ và Chánh Thư ký Công nhân cứu quốc.
Từ năm 1946 đến năm 1954, ông là Ủy viên Thường trực Ban Chấp hành Liên đoàn Lao động Trung Bộ, Ủy viên Công vận của Đảng, Trưởng ban quân giới Quảng Nam – Đà Nẵng, Ủy viên Ban Chấp hành Công đoàn Liên khu V, Ủy viên công vận Liên khu V, phụ trách quân giới Quảng Nam – Đà Nẵng; sau đó làm Trưởng ban chuyên môn quân giới Liên khu V; Ủy viên Đảng đoàn công vận Liên khu V; Phó Giám đốc, Giám đốc Quân giới Liên khu V; Đảng ủy viên hậu cần Liên khu V; Ủy viên Ban Chấp hành công đoàn Liên khu V.
Sau Hiệp định Genève, ông tập kết ra Bắc, làm Giám đốc, Bí thư Đảng ủy nhà máy Sửa chửa tàu hải quân (Hải Phòng). Năm 1956 đến năm 1959, làm Giám đốc Nhà máy liên hợp dệt Nam Định, Thành ủy viên rồi Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Nam Hà. Từ 1960 đến năm 1962, làm Cục trưởng cục Cơ khí, Vụ trưởng vụ Kế hoạch Bộ Công nghiệp nặng, Ủy viên Đảng đoàn Bộ. Năm 1963 đến năm 1969, là Thứ trưởng Bộ Công nghiệp nặng, Ủy viên Đảng đoàn Bộ Công nghiệp nặng. Năm 1969 đến năm 1971, là Thứ trưởng Bộ Điện và Than, Quyền Bộ trưởng Bộ Điện – Than và Ủy viên Đảng đoàn Bộ. Năm 1972 đến khi nghỉ hưu (1985) là Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp, Ủy viên Ban Cán sự, Ủy viên Đảng đoàn Bộ Nông nghiệp.
Với những cống hiến to lớn cho cách mạng, ông được Đảng và Nhà nước tặng: Huân chương Độc Lập hạng nhất; Huân chương kháng chiến hạng nhất; Huân chương Chiến thắng hạng nhì và nhiều phần thưởng khác. Riêng đối với vùng đất Quảng Nam – Đà Nẵng, ông đã có những đóng góp to lớn cho phòng trào đấu tranh cách mạng trong thời gian từ năm 1939 đến năm 1954, đã cùng với các đồng chí Huỳnh Ngọc Huệ, Lê Văn Quý… hoạt động sôi nổi trong thời kỳ này.
Đà Nẵng đặt tên ông cho đoạn đường từ đường Trần Nam Trung đến giáp đường Phạm Hùng, chiều dài 950m, thuộc quận Cẩm Lệ theo Nghị quyết 338/2020/NQ-HĐND, ngày 09/12/2020 về việc đặt tên một số đường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng năm 2020 của Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng khóa IX, nhiệm kỳ 2016-2021, kỳ họp thứ 16.
Tài liệu tham khảo chính:
– Ban liên lạc xưởng vũ khí dân quân Nho Bán (Quảng Nam – Đà Nẵng): Xưởng vũ khí dân quân Nho Bán – hình thành và phát triển (1945-1954). Tài liệu lưu hành nội bộ, 1999.
– Quân khu V – Cục kỹ thuật: Lịch sử quân giới Khu 5 (1945-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, 1995.
– Các giấy tờ xác nhận khen thưởng của Đảng và Nhà nước.
TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG
tiếp tục đăng tải thông tin về các danh nhân, địa danh, tên đường phố, mốc son lịch sử khác trên địa bàn TP. Đà Nẵng.
Chi tiết các danh nhân, địa danh, tên đường phố, mốc son lịch sử khác,
Quý anh/chị vui lòng liên hệ đường dây nóng
0236 1022
để được cung cấp (cước gọi điện 200đ+/phút, KHÔNG THU PHÍ PHỤC VỤ).