TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG
–
0236 1022
kính gửi đến Quý anh/chị thông tin về danh nhân Nguyễn Mậu Kiến
NGUYỄN MẬU KIẾN (1819 -1879) có tên tự là Lập Nho, hiệu là Đông Am, Kính Đài, biệt hiệu Mão Sơn cư sĩ, quê ở làng Động Trung, nay là xã Vũ Trung, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
Thuở nhỏ, ông học ở Thái Bình, sau đó, ông lên Thăng Long (Hà Nội) theo học các thầy giỏi như Nhận Trai Nguyễn Đình Dao, Phương Đình Nguyễn Văn Siêu….
Hai lần thi Hương không đỗ, nhưng nổi tiếng uyên bác, được làm bạn vong niên với các ông Phạm Văn Nghị, Doãn Khuê.
Biết được tài năng của ông, nhiều người đã tiến cử ông với triều đình. Năm 1865, ông vào Huế thi và đỗ khoa Hoàng từ (ngang với Hoàng giáp tức Nhị giáp tiến sĩ), tuy đỗ nhưng ông không ra làm quan.
Sau nhiều lần vua Tự Đức cho gọi, đến năm 1867, ông mới chịu ra nhận chức Bang biện Nam Định, Bang biện quân thứ đạo Lạng Bình rồi làm Án sát Quảng Yên và Lạng Sơn.
Năm Quý Dậu (1873), khi Pháp tiến hành xâm lược Bắc Kỳ lần thứ nhất, ông chiêu mộ quân dân vùng Kiến Xương, Tiền Hải đứng lên chống Pháp. Sau, vì dàn hòa những người chủ hòa với Pháp, ông bị cách chức, sau lại được về làm ở Viện Hàn lâm. Vua Tự Đức khen ông là người học rộng, nói thẳng. Sau đó, Hoàng Kế Viêm xin cho ông ra giúp ở Sơn phòng Hưng Hóa (1877) đề phòng quân Pháp trở lại chiếm Bắc Kỳ.
Ông có năm người con trai: Nguyễn Hữu Cương, Nguyễn Hữu Phu, Nguyễn Hữu Bản, Nguyễn Hữu Khái và Nguyễn Đình Đàn đều là những người nối chí cha đi đầu và trọn đời trung thành với sự nghiệp yêu nước, chống Pháp. Nghĩa quân của dòng họ Nguyễn do Nguyễn Hữu Cương đứng đầu liên minh chặt chẽ với Đề đốc Tạ Hiện đã chiến đấu kiên cường giữ vững được các tỉnh Thái Bình – Nam Định. Nguyễn Hữu Bản hy sinh khi mất thành Nam Định (1883). Hai người con khác như Nguyễn Hữu Cương, Nguyễn Hữu Phu đều đi theo nghĩa quân của Tán Thuật đánh Pháp.
Ông cũng là người dày công khuyến học nổi tiếng trong cuối thế kỷ 19, đã bỏ ra hàng nghìn mẫu ruộng để cúng vào học điền, binh điền.
Ông là soạn giả những cuốn Dịch lý tân biên, Minh sử luận đoán khảo biện, Chiêm thiên tham khảo và sáng tác Kính đài tập vịnh.
Ông lập tại nhà một cơ sở gọi là Chiêm bái đường, thuê thợ về khắc in, các sách thuộc nhiều loại: nho, y, lý, số, thiên văn, binh pháp.
Ngày 8-9 năm Kỷ Mão (1879), ông mất tại quân doanh đồn Vàng (phố Vàng) tỉnh Hưng Hóa, nay là thị trấn Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. (Sách Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam ghi ông tích cực chiến đấu nhưng vì thế yếu đành lui về quê rồi bị bệnh mất năm 1879).
Đà Nẵng đặt tên ông cho đoạn đường từ đường Mê Linh đến giáp đường 10,5 m, chiều dài 455 m, quận Liên Chiểu theo Nghị quyết 120/2017/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng khóa IX ngày 7 tháng 12 năm 2017 về việc đặt, đổi tên một số đường và công trình công cộng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng năm 2017.
Tài liệu tham khảo chính:
– Vũ Ngọc Khánh (chủ biên), Từ điển Văn hóa Việt Nam, Nhà Xuất bản Văn hóa, 1993.
– Nguyễn Q. Thắng-Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nhà Xuất bản Văn hóa, 1997.
TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG
tiếp tục đăng tải thông tin về các danh nhân, địa danh, tên đường phố, mốc son lịch sử khác trên địa bàn TP. Đà Nẵng.
Chi tiết các danh nhân, địa danh, tên đường phố, mốc son lịch sử khác
, Quý anh/chị vui lòng liên hệ đường dây nóng
0236 1022
để được cung cấp (cước gọi điện 200đ+/phút, KHÔNG THU PHÍ PHỤC VỤ).
TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG: (0236) 1022 hoặc *1022, miễn phí phục vụ
1. Đường dây nóng tiếp nhận ý kiến phản ánh, góp ý của tổ chức, công dân.
2. Hướng dẫn, giải đáp quy định, chính sách, thông tin kinh tế – xã hội.
3. Hướng dẫn thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến.
4. Cung cấp thông tin về hỗ trợ doanh nghiệp; quy định, chính sách hỗ trợ Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
5. Cung cấp thông tin về du lịch, sự kiện Văn hóa – Thể thao.
6. Cung cấp dịch vụ Tổng đài CSKH, nhắn tin CSKH, truyền thông, sự kiện và các dịch vụ tư vấn khác…


English