TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG
–
0236 1022
kính gửi đến Quý anh/chị thông tin về danh nhân Hương Hải Thiền Sư
Hương Hải Thiền Sư (1628 – 1715), ông quê ở làng Áng Độ, huyện Chân Phúc, trấn Nghệ An (Nghi Lộc, Nghệ An). Tổ bốn đời của ông là Trung Lộc hầu, theo Nguyễn Hoàng vào Quảng Nam giữ chức trông coi lính thợ. Năm 18 tuổi, ông đi thi đỗ Hương tiến, được bổ nhiệm Tri phủ Triệu Phong. Năm 25 tuổi, ông từ chức, xuất gia đi tu, rồi vượt biển đến núi Tiêm Bút La, biển Nam Hải, dựng am thiền, lấy hiệu là Huyền Cơ Thiện Giác, pháp tự là Minh Châu Hương Hải thiền sư. Sau một thời gian, ông lại trở về xã Bình An Thượng thuộc phủ Thăng Hoa, xứ Quảng Nam. Ngoài tu thiền, ông còn nghiên cứu y học. Ông chữa khỏi bệnh cho Tổng thái giám xứ Quảng Nam là Hoa Lễ Hầu. Chúa Hiền biết việc này đã mời vào triều làm lễ quy y cho vợ con chúa và vợ con các triều thần. Ông trụ trì ở chùa Thiên Tĩnh núi Quy Kinh.
Thời gian ở Thuận Hóa, ông kết giao với Gia quận công, người xứ Kinh Bắc. Gia quận công là tướng của chúa Trịnh đánh Quảng Nam bị bắt làm tù binh, sau đó được tha, rồi dạy học ở xứ này. Vì thế, ông bị tình nghi là có mưu đồ phản nghịch. Hiền Vương bèn sai người đưa ông trở lại Quảng Nam.
Năm Nhâm Tuất (1682), ông cùng với hơn 50 đệ tử vượt biển ra Bắc, thuyền cập bến, được trấn thủ Nghệ An và châu Bố Chính là Yên quận công tiếp đón rất nồng hậu. Một tháng sau, chúa Trịnh Tạc cho thuyền đón ông về kinh và giao cho quan đại thần thẩm tra lai lịch. Sau khi biết rõ thực tình, chúa Trịnh ban thưởng cho ông rất hậu và sai người lập am ở Sơn Nam cho ông trụ trì ở chùa Nguyệt Đường (Phố Hiến, Hưng Yên). Ông mất tại chùa này, thọ 88 tuổi.
Ông là một cao tăng, đồng thời là nhà thơ, nhà văn, nhà triết học Phật giáo Đại thừa, sáng tác và trước tác rất nhiều.
Về thi phẩm: có 40 bài thơ đượm thiền học chép trong sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn.
Về quân sự và địa lý học: Thuận Quảng nhị xứ sơn thủy lộ trình bản đồ.
Về văn phẩm: Hương Hải thiền sư ngũ lục
Về triết học: Cơ duyên vấn đáp tính giải – giải đáp về cơ duyên ngộ đạo; Lí sự dung thông – giải minh về mối quan hệ giữa bản thể và hiện tượng;
Giải minh ý nghĩa các kinh luật:
– Về khóa nghi: Cúng Phật tam khoa, Cúng dược sư khoa, Cúng cửu phẩm khoa.
– Dịch kinh ra quốc âm có: Quán vô lượng thọ kinh Quốc ngữ. Phật tử Việt Nam coi Hương Hải thiền sư là một trong những cây đại thụ của thiền phái Trúc Lâm.
Đà Nẵng đặt tên ông cho đoạn đường từ đường Thế Lữ, đến giáp khu vực chưa thi công, thuộc Khu dân cư An Hòa, quận Sơn Trà theo Nghị quyết số 107/2010/NQ-HĐND của HĐND thành phố Khóa VII, ngày 03/12/2010 về đặt tên một số đường và công trình công cộng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
* Tài liệu tham khảo chính:
– Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Việt Nam các nhân vật lịch sử – văn hóa, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, năm 2008.
– Nghị quyết số 107/2010/NQ-HĐND của HĐND thành phố Khóa VII, ngày 03/12/2010 về đặt tên một số đường và công trình công cộng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG
tiếp tục đăng tải thông tin về các danh nhân, địa danh, tên đường phố, mốc son lịch sử khác trên địa bàn TP. Đà Nẵng.
Chi tiết các danh nhân, địa danh, tên đường phố, mốc son lịch sử khác,
Quý anh/chị vui lòng liên hệ đường dây nóng
0236 1022
để được cung cấp (cước gọi điện 200đ+/phút, KHÔNG THU PHÍ PHỤC VỤ).
TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG: (0236) 1022 hoặc *1022, miễn phí phục vụ
1. Đường dây nóng tiếp nhận ý kiến phản ánh, góp ý của tổ chức, công dân.
2. Hướng dẫn, giải đáp quy định, chính sách, thông tin kinh tế – xã hội.
3. Hướng dẫn thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến.
4. Cung cấp thông tin về hỗ trợ doanh nghiệp; quy định, chính sách hỗ trợ Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
5. Cung cấp thông tin về du lịch, sự kiện Văn hóa – Thể thao.
6. Cung cấp dịch vụ Tổng đài CSKH, nhắn tin CSKH, truyền thông, sự kiện và các dịch vụ tư vấn khác…


English