Dân tộc Việt Nam: Dân tộc Hrê

0:00



TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG

–

0236 1022


kính gửi đến Quý anh/chị thông tin về Dân tộc Hrê


Câu 1: Tên gọi khác?


Chăm Rê, Chom, Thượng Ba Tơ, Mọi Lũy, Mọi Sơn Phòng, Mọi Đá Vách, Chăm Quảng Ngãi, Mọi Chòm, Rê, Man Thạch Bích.


Câu 2: Dân tộc Hrê có bao nhiêu người và địa bàn cư trú chủ yếu ở đâu?


Tính đến Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009, dân tộc Hrê có 113.111 người.

Người Hrê sống chủ yếu ở các huyện phía tây tỉnh Quảng Ngãi như Sơn Hà, Ba Tơ, Minh Long; huyện An Lão, tỉnh Bình Định; một số ít ở huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum.


Câu 3. Lịch sử hình thành và ngôn ngữ?


Người Hrê thuộc số cư dân sinh tụ rất lâu đời ở vùng Trường Sơn – Tây Nguyên.

Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer (ngữ hệ Nam Á). Thời kỳ trước năm 1975, chữ viết ra đời bằng cách dùng hệ thống ký tự Latinh để phiên âm, được sử dụng rộng rãi nhưng nay đã bị mai một.


Câu 4: Hoạt động sản xuất và phương tiện vận chuyển?


Hoạt động sản xuất: Phần lớn người Hrê làm ruộng nước là chính, chỉ có một bộ phận sống chủ yếu nhờ rẫy. Lối canh tác rẫy phát-đốt-chọc trỉa, với bộ nông cụ đơn giản gồm rìu, dao quắm, gậy chọc lỗ, cái nạo cỏ, khi thu hoạch thì dùng tay tuốt lúa. Cách thức làm ruộng tương tự như ở người Việt vùng Nam Trung Bộ (dùng cày, bừa có đôi trâu kéo, biết gieo mạ và cấy, dùng liềm và vằng để gặt…) nhưng còn thấy dấu vết của tập quán trồng lúa rẫy.

Từng gia đình thường nuôi trâu, lợn, chó, gà. Nghề thủ công chỉ có đan lát và dệt vải, nhưng nay cũng không phát triển, nhất là nghề dệt chỉ còn ở vài nơi. Việc giao lưu hàng hóa thường theo hình thức trao đổi vật trực tiếp. Hái lượm, săn bắt và đánh bắt cá cung cấp nguồn thức ăn quan trọng cho mỗi gia đình.

Phương tiện vận chuyển: Người Hrê quen dùng gùi sau lưng, mỗi quai gùi quàng giữ vào một vai: chở thóc gạo thì dùng gùi đan dày; chở củi, sắn thì có gùi mắt thưa; đàn ông đi rừng hay đi trận có riêng loại gùi như chiếc túi hoặc gùi 3 ngăn. Ngoài ra, người Hrê còn gánh lúa khi gặt và đội đồ vật trên đầu.


Câu 5: Quan hệ xã hội?


Già làng có uy tín và ảnh hưởng lớn. Trước kia sự phân hóa xã hội đã khá sâu sắc, chế độ tôi tớ-đặc biệt là đi ở vì nợ-có phần khắc nghiệt hơn nhiều tộc Thượng khác, hiện tượng tranh chiếm và tập trung ruộng đất (theo đó là sự xác lập quyền thế của một số cá nhân) đã tương đối phát triển. Tuy vậy, trong làng vẫn thể hiện tinh thần cộng đồng công xã.

* Tài liệu tham khảo: Hỏi và đáp về 54 dân tộc Việt Nam, Nhà xuất bản chính trị quốc gia



TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG


tiếp tục đăng tải thông tin về các danh nhân, địa danh, tên đường phố, mốc son lịch sử, dân tộc Việt Nam khác trên địa bàn TP. Đà Nẵng.


Chi tiết các danh nhân, địa danh, tên đường phố, mốc son lịch sử, dân tộc Việt Nam khác

, Quý anh/chị vui lòng liên hệ đường dây nóng 0236 1022 để được cung cấp (cước gọi điện 200đ+/phút, KHÔNG THU PHÍ PHỤC VỤ).

TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG: (0236) 1022 hoặc *1022, miễn phí phục vụ  
1. Đường dây nóng tiếp nhận ý kiến phản ánh, góp ý của tổ chức, công dân.
2. Hướng dẫn, giải đáp quy định, chính sách, thông tin kinh tế – xã hội.
3. Hướng dẫn thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến.
4. Cung cấp thông tin về hỗ trợ doanh nghiệp; quy định, chính sách hỗ trợ Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
5. Cung cấp thông tin về du lịch, sự kiện Văn hóa – Thể thao.
6. Cung cấp dịch vụ Tổng đài CSKH, nhắn tin CSKH, truyền thông, sự kiện và các dịch vụ tư vấn khác…

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *