Ngày 10-8, Thành ủy Đà Nẵng và Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức Tọa đàm khoa học với chủ đề “Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII và Luật bảo vệ môi trường hướng tới phát triển bền vững trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”. GS.TS Lê Văn Lợi, Phó Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, TS Lê Quang Nam, Phó Chủ tịch UBND thành phố, và PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa, Phó Giám đốc Học viện Chính trị Khu vực III đồng chủ trì tọa đàm.

Tọa đàm Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII và Luật bảo vệ môi trường hướng tới phát triển bền vững trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Phát biểu tại tọa đàm, GS.TS Lê Văn Lợi nhận định, phát triển bền vững có thể được hiểu là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai, là quá trình tăng trưởng kinh tế đi liền với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Như vậy, bảo vệ môi trường là một trục nội dung quan trọng trong phát triển bền vững.
Theo Phó Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển. Cùng với Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, năm 2020, nhiều chủ trương, chính sách được ban hành và thực thi trên thực tế. Trong đó, Nghị quyết Đại hội XIII khẳng định, “lấy bảo vệ môi trường sống và sức khoẻ nhân dân làm mục tiêu hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, bảo đảm chất lượng môi trường sống, bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái; xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường”.
Tại Đà Nẵng, Phó Chủ tịch UBND thành phố Lê Quang Nam cho biết, các cấp chính quyền thành phố rất quyết liệt trong vấn đề bảo vệ môi trường gắn với phát triển kinh tế. Thành phố đã huy động các nguồn lực từ ngân sách Nhà nước, vốn vay ODA, vốn của doanh nghiệp cho việc đầu tư, hiện đại hóa cơ sở vật chất, phương tiện, trang thiết bị để nâng cao năng lực quan trắc, phân tích môi trường; xây dựng cơ sở dữ liệu môi trường, kiểm soát ô nhiễm; đầu tư xây dựng các công trình trọng điểm về ứng phó với biến đổi khí hậu.
Cùng với đó, phòng chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu đã được tích hợp trong quy hoạch chung và quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật như thoát nước mặt; thoát nước thải; chiếu sáng đô thị; cấp nước; cấp điện; xử lý chất thải rắn; cây xanh đô thị. Biến đổi khí hậu được lồng ghép vào Quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, Kế hoạch triển khai Đề án Xây dựng Đà Nẵng – Thành phố Môi trường. Quy hoạch giao thông cũng dựa trên cơ sở quy hoạch cao độ nền phù hợp với các tần suất lũ, mực nước biển dâng hiện tại và tính toán dự kiến trong tương lai.
Thành phố đã xây dựng hệ thống đê, kè biển, đê, kè cửa sông, kè sông với tổng chiều dài khoảng 56,027 km, tiếp tục xây dựng các dự án đê, kè sông, biển tại các vị trí xung yếu. Quy hoạch hành lang thoát lũ hạ lưu sông Vu Gia, sông Cu Đê; xây dựng hành lang thoát lũ khu vực lòng sông, bãi sông cho các sông: Yên, Túy Loan, Cầu Đỏ – Cẩm Lệ, Vĩnh Điện, Cổ Cò và Cu Đê. Thực hiện các sáng kiến khuyến khích làm nhà ở chống biến đổi khí hậu cho người nghèo ở vùng đô thị; nâng cao năng lực ứng phó với gánh nặng nhiệt của người lao động tại nơi làm việc khu vực đô thị trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
Trên lĩnh vực quản lý tài nguyên, Đà Nẵng đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách sử dụng tiết kiệm, hợp lý và hiệu quả quỹ đất, đảm bảo hài hòa giữa mục đích sử dụng đất gắn với mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng ở từng thời kỳ; lồng ghép quy hoạch về phát triển cảng biển vào Quy hoạch chung của thành phố. Đồng thời, đẩy mạnh hợp tác với tỉnh Quảng Nam trong việc bảo vệ và sử dụng có hiệu quả tài nguyên nước ở lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn và vùng bờ biển.
Đà Nẵng cũng rất tích cực triển khai các dự án trồng rừng ven biển trong chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh; trồng rừng ven biển, rừng tự nhiên, các hệ sinh thái biển, các bể hấp thụ các-bon trong tự nhiên. Tổ chức điều tra, đánh giá, cập nhật cơ sở dữ liệu về sạt lở bờ sông, bờ biển; đánh giá hiện trạng các công trình và đề xuất các giải pháp công trình phù hợp với tình hình xâm thực, xói lở bờ sông, bờ biển. Quản lý và khai thác du lịch tại các bãi biển tuyến Nguyễn Tất Thành; phát triển du lịch cộng đồng Thọ Quang – Mân Thái; phát triển du lịch cộng đồng Nam Ô tại phường Hòa Hiệp Nam, Quận Liên Chiểu.
Theo Phó Chủ tịch UBND thành phố, đến thời điểm hiện tại, công tác thu gom và xử lý chất thải rắn được thành phố đầu tư khá đồng bộ, tỷ lệ thu gom đạt 87% tổng lượng rác; nước thải sinh hoạt được thu gom bằng hệ thống cống, mương thoát nước, xử lý tập trung tại 4 trạm xử lý sau đó chảy theo đường ống xả ra sông Hàn, vịnh Đà Nẵng, biển Đông.
Đà Nẵng là địa phương đi tiên phong trong cả nước áp dụng tiêu chuẩn khí thải đối với các loại xe; khuyến khích phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn để sử dụng tổng hợp và hiệu quả đầu ra của quá trình sản xuất. Đồng thời, ứng dụng công nghệ tiên tiến nhất về cấp thoát nước và thu gom xử lý rác thải, chất thải rắn để đạt tiêu chí Kết cấu hạ tầng đô thị (giao thông, môi trường) tạo nền tảng phát triển một thành phố đáng sống, bền vững và trường tồn.
Nhiều sáng kiến cụ thể của Đà Nẵng cho thấy sự thống nhất trong quan điểm chỉ đạo, sự phối hợp chặt chẽ của các cấp chính quyền và người dân trong công tác quản lý, bảo vệ môi trường, như Đề án “Xây dựng Đà Nẵng – Thành phố môi trường giai đoạn 2021-2030”, Cuộc thi tuyên truyền “Xây dựng Đà Nẵng – Thành phố môi trường năm 2022”, Hội thảo quốc tế “Sáng kiến địa phương – Hợp tác và Phát triển vì Môi trường Việt Nam”.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn thành phố còn gặp nhiều khó khăn, thách thức, như năng lực cảnh báo, dự báo thiên tai, giám sát biến đổi khí hậu chưa đáp ứng yêu cầu; các thông tin, tài liệu nghiên cứu, đánh giá cụ thể các tác động của biến đổi khí hậu đến thành phố và từng ngành, lĩnh vực còn rất hạn chế do thiếu các công cụ, các mô hình phân tích, dự báo và dữ liệu tin cậy, phù hợp.
Việc thực hiện các giải pháp ứng phó biến đổi khí hậu (công trình và phi công trình), tổ chức điều tra cơ bản tài nguyên, hệ sinh thái, lập quy hoạch các nguồn tài nguyên, đầu tư xử lý ô nhiễm môi trường, cải thiện chất lượng môi trường… trên địa bàn thành phố gặp nhiều khó khăn do chưa đủ nguồn lực, kể cả về mặt kỹ thuật và tài chính. Việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng năng lượng theo hướng tăng tỷ lệ năng lượng tái tạo, năng lượng mới còn chậm do tính mới, chi phí đầu tư cao, chỉ mới tập trung ở một số dự án thí điểm.
Theo GS.TS Lê Văn Lợi, những kết quả đạt được, kinh nghiệm nghiên cứu và xử lý các vấn đề thực tiễn môi trường của thành phố Đà Nẵng là cơ sở góp phần giúp Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tham mưu hoàn thiện các chính sách về bảo vệ môi trường cho Đảng và Nhà nước trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn hiện nay.
“Việc Đà Nẵng dẫn đầu bảng xếp hạng các tỉnh, thành về chỉ số bảo vệ môi trường trong những năm gần đây đã góp phần làm nên Đà Nẵng, một thành phố xanh – sạch – đẹp, một thành phố đáng sống nhất Việt Nam. Kinh nghiệm quản lý môi trường của thành phố Đà Nẵng có thể là bài học tốt cho các tỉnh, thành khác trong cả nước”, Phó Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh chia sẻ.
Theo danang.gov.vn
TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG: (0236) 1022 hoặc *1022, miễn phí phục vụ
1. Đường dây nóng tiếp nhận ý kiến phản ánh, góp ý của tổ chức, công dân.
2. Hướng dẫn, giải đáp quy định, chính sách, thông tin kinh tế – xã hội.
3. Hướng dẫn thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến.
4. Cung cấp thông tin về hỗ trợ doanh nghiệp; quy định, chính sách hỗ trợ Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
5. Cung cấp thông tin về du lịch, sự kiện Văn hóa – Thể thao.
6. Cung cấp dịch vụ Tổng đài CSKH, nhắn tin CSKH, truyền thông, sự kiện và các dịch vụ tư vấn khác…


English