Dân tộc Việt Nam: Dân tộc Xtiêng
Người đăng tin: Linh Hoài Dương Ngày đăng tin: 19/11/2021 Lượt xem: 1

TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG – 0236 1022 kính gửi đến Quý anh/chị thông tin về Dân tộc Xtiêng
Câu 1: Các tên gọi khác và nhóm địa phương?
Tên gọi khác: Xa Điêng hay Xa Chiêng
Nhóm địa phương: Bù Lơ, Bù Đek (Bù Đêh), Bù Biêk.
Câu 2: Dân tộc Xtiêng có bao nhiêu người và địa bàn cư trú chủ yếu ở đâu?
Tính đến Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009, dân tộc Xtiêng có 66.788 người.
Địa bàn cư trú chủ yếu của người Xtiêng tại tỉnh Bình Phước, một số ở Bình Dương, Tây Ninh và Đồng Nai.
Câu 3. Lịch sử hình thành và ngôn ngữ?
Người Xtiêng sinh tụ lâu đời ở vùng nam Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ.
Tiếng nói của người Xtiêng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer (ngữ hệ Nam Á) tương đối gần gũi với tiếng Mạ, Mnông, Chơro. Chữ viết hình thành từ trước năm 1975, theo chữ cái Latinh.
Câu 4: Hoạt động sản xuất và phương tiện vận chuyển?
Hoạt động sản xuất: Đối với người Xtiêng, nguồn lương thực chính là lúa gạo, khoảng 80 % lúa gạo do rẫy cung cấp. Nhòm Bù Lơ ở cao, sâu hơn, hoàn toàn làm rẫy. Nhóm Bù Đeh (Bù Đêh) ở vùng thấp làm ruộng nước từ khoảng 100 năm, như cách thức canh tác của người Việt sở tại. Lúa rẫy có các giống khác nhau, được trồng theo lối “phát-đốt-chọc-trỉa”, kết quả mùa màng phụ thuộc lớn vào thiên nhiên và việc bảo vệ trước sự phá phách của chim muông. Công cụ làm rẫy chủ yếu gồm rìu và dao xà gạc để khai phá rừng, sau khi đốt thì dùng cây cào tre có 5 răng để dọn rồi đốt lại, khi trỉa dùng gậy nhọn (mỗi tay cầm một chiếc) để chọc lỗ, đồng thời gieo hạt giống theo, làm cỏ bằng loại cuốc con (về sau thay thế bằng cái xà - bát mà người Việt sử dụng), dùng tay tuốt lúa. Hái lượm, săn bắn và kiếm cá đưa lại nguồn lợi quan trọng thiết thực. Gia súc phổ biến gồm trâu, bò, lợn, chó, một số hộ nuôi voi; gia cầm chủ yếu là gà. Nghề thủ công có dệt vải và đan lát. Việc mua bán thường dùng vật đổi vật (nay dùng tiền), có quan hệ họ hàng với người Việt, Khmer, Mnông, Mạ và cả với bên Campuchia.
Phương tiện vận chuyển: Đối với người Xtiêng, các loại gùi là phương tiện vận chuyển chính rất thông dụng, cách gùi như ở các tộc Thượng khác. Ở nhóm gần người Việt và Khmer, các loại xe gỗ hai bánh dùng đôi bò kéo và đã trở thành một phương tiện vận chuyển phổ biến từ rất lâu đời.
Câu 5: Quan hệ xã hội?
Mỗi cặp vợ chồng và con cái là một “bếp” (nak). Nhiều “bếp” hợp thành một nhà (yau). Mỗi làng xưa gồm một vài nhà, càng về sau số nhà càng tăng do việc tách hộ ở riêng. Mỗi người không chỉ thuộc về một “bếp”, một nhà, một làng, mà còn là thành viên của một dòng họ nhất định và nằm trong các mối quan hệ họ hàng khác nữa. Về tổ chức xã hội truyền thống, làng là đơn vị bao trùm và nổi bật; trong tự quản ở làng thì ông “già làng” và các bô lão có uy tín cao khác đóng vai trò quan trọng đặc biệt. Xưa kia, ngoài một số ít người giàu có và đa số thuộc lớp nghèo, xã hội Xtiêng đã có những “nô lệ gia đình” do phải ở đợ, hoặc bị mua về…

* Tài liệu tham khảo: Hỏi và đáp về 54 dân tộc Việt Nam, Nhà xuất bản chính trị quốc gia 

TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG tiếp tục đăng tải thông tin về các danh nhân, địa danh, tên đường phố, mốc son lịch sử, dân tộc Việt Nam khác trên địa bàn TP. Đà Nẵng. 

Chi tiết các danh nhân, địa danh, tên đường phố, mốc son lịch sử, dân tộc Việt Nam khác, Quý anh/chị vui lòng liên hệ đường dây nóng 0236 1022 để được cung cấp (cước gọi điện 200đ+/phút, KHÔNG THU PHÍ PHỤC VỤ).

TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG: (0236) 1022 hoặc *1022 miễn phí phục vụ  

1. Nhận phản ánh, góp ý của người dân cho Thành phố và chuyển cơ quan chức năng xử lý 
2. Hướng dẫn, giải đáp THỦ TỤC hành chính, quy định, chính sách 
3. Hướng dẫn sử dụng dịch vụ chính quyền điện tử 
4. Cung cấp các thông tin khác của Thành phố (thiên tai, địa điểm, sự kiện, ….) 
5. Cung cấp dịch vụ Call Center , nhắn tin CSKH chuyên nghiệp, GIÁ RẺ NHẤT.

Chuyên mục, tin tức liên quan:




 

Liên kết web Liên kết web

Quản lý video Quản lý video

zalo