Dân tộc Việt Nam: Dân tộc Mnông
Người đăng tin: Linh Hoài Dương Ngày đăng tin: 07/09/2021 Lượt xem: 1

TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG – 0236 1022 kính gửi đến Quý anh/chị thông tin về Dân tộc Mnông

Câu 6. Phong tục, tập quán đặc trưng?
Ăn: Họ ăn cơm gạo tẻ nấu trong những nồi đất nung, xa xưa thì phổ biến là cơm lam (gạo nếp nấu trong ống nứa). Bữa ăn trưa ở trên ruộng rẫy thường là món cháo chua đựng trong những trái bầu khô. Thức ăn chủ yếu là muối ớt, canh rau rừng, thịt chim, thú và cá suối bắt được. Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm chưa phát triển. Rau củ được trồng trên rẫy để bổ sung cho nguồn thức ăn do hái lượm đem lại. Thức uống phổ biến là rượu cần.
Mặc: Về mùa nóng, đàn ông xưa kia thường đóng khố ở trần; còn đàn bà thì quấn váy tấm và cũng ở trần. Về mùa lạnh, họ khoác thêm trên mình một tấm mền, kiểu phục sức rất phổ biến ở Trường Sơn - Tây Nguyên. Hiện nay trong trang phục Mnông đã tiếp thu nhiều yếu tố Việt. Tập quán “cà răng, căng tai” phổ biến trong xã hội cổ truyền đến nay chỉ còn lại dấu ấn ở những người cao tuổi. 
Ở: Tùy theo vùng và từng nhóm địa phương mà họ xây cất nhà trệt hoặc nhà sàn. Nhà trệt có mái tranh gần sát đất và nền đất là mặt bằng sinh hoạt, rất phổ biến ở nhóm Mnông Gar, Mnông Preh, Mnông Prâng…Còn nhà sàn thường là sàn thấp, chỉ cách mặt đất khoảng 0,7 m đến 1 m và phổ biến ở nhóm Mnông Kuênh, Mnông Chil, Mnông Bhiêt…Riêng nhóm Mnông Rlâm ở vùng hồ Lắk xây cất nhà sàn cao theo kiến trúc của người Êđê. Dù là nhà sàn hay nhà trệt thì mái vẫn lợp bằng cỏ tranh: khung và sườn nhà được kết hợp 2 nguyên liệu là tre nứa và gỗ cây…Các bộ phận được liên kết bằng chạc, ngoãm, dây mây và dây rừng. 
Cưới xin: Phụ nữ thường chủ động hơn trong việc hôn nhân. Lễ cưới do hai bên cùng tổ chức. Sau hôn nhân phổ biến là cư trú phía nhà gái. Ở nhiều nhóm địa phương lại phổ biến hình thức luân cư song phương. Con sinh ra đều mang họ mẹ. Trong tập quán cưới xin có 3 nghi lễ là Sa ur, Tâm ốp và Tâm nsông tương ứng với lễ chạm ngõ, lễ ăn hỏi và lễ thành hôn. Chế độ một vợ một chồng là quy tắc chặt chẽ trong quan hệ hôn nhân. Luật tục Mnông phạt vạ rất nghiêm khắc với tội loạn luân và ngoại tình. 
Ma chay: Khi có người chết, cả làng nghỉ việc đồng áng để cùng lo mai táng, ma chay. Thi hài được quàn tại nhà khoảng 2 ngày đối với người chết già, chết vì bệnh tật. Họ rất kinh hãi và chối bỏ việc ma chay đối với mọi cái chết do tai nạn gây nên (chết đuối, ngã cây, rắn cắn, hổ vồ,…và chết do chiến tranh, đâm chém). Những cái chết “bất đắc kỳ tử” như vừa nêu thì thi hài không được đem vào nhà mà phải mai táng tức khắc một cách thầm lặng. Thổ táng là hình thức duy nhất trong việc tang ma, không có tập quán cải táng. Mọi người chết đều được chia tài sản để mang về “lập nghiệp” ở thế giới của ông bà gọi là Phan.  
Nhà mới: Khi một ngôi nhà được xây cất hoàn tất thì lễ khánh thành để vào nhà mới sẽ được tổ chức linh đình bằng một ngày tiệc mặn cúng hiến sinh heo. Sau bữa ăn rồi mới đến tiệc rượu cần rất rôm rả trong tiếng nhạc cồng chiêng.
Lễ tết: Lễ hội đâm trâu là lễ hội cổ truyền được coi trọng nhất. Kết thúc mùa thu hoạch lúa hàng năm, mỗi làng đều tổ chức Tết ăn mừng cơm mới, tạ ơn trời đất và thần Lúa. Trâu được hiến sinh trọng hội lễ tưng bừng để chuẩn bị cho một mùa vụ mới tràn đầy hy vọng. 
Lịch: Nông lịch cổ truyền Mnông tính theo lịch âm, dựa vào quy trình canh tác rẫy. Mỗi năm cũng có 12 tháng, mỗi tháng có từ 29 đến 30 ngày. 
Học: Trong xã hội cổ truyền Mnông chưa có chữ viết, chỉ có văn chương truyền miệng. Việc giáo dục, học tập được thực hiện bằng phương pháp chỉ dẫn trực tiếp, làm mẫu noi theo, bắt chước. Thập kỷ gần đây mới xuất hiện chữ viết nhưng sự phổ biến rộng rãi đang vấp phải không ít trở ngại.
Văn nghệ: Kho tàng truyện cổ, đặc biệt là sử thi và Tập quán pháp ca tiềm ẩn nhiều giá trị, đã và đang được khai thác, giới thiệu. Tục ngữ, ca dao, dân ca rất phong phú. Nhạc cụ có cồng, chiêng, kèn bầu, kèn sừng trâu, kèn môi, đàn độc huyền, đàn 8 dây, sáo dọc. Đặc biệt là vỏ trái bầu khô được sử dụng một cách phổ biến để tạo nên bộ phận khuếch đại âm thanh trong nhiều nhạc cụ bằng tre, nứa. Người ta đã tìm thấy ở vùng cư trú của người Mnông bộ đàn đá nguyên thủy nổi tiếng từ giữa thế kỷ XX.
Chơi: Trẻ em thường thích chơi diều, đánh cù, bịt mắt bắt dê, chạy, nhảy…

* Tài liệu tham khảo: Hỏi và đáp về 54 dân tộc Việt Nam, Nhà xuất bản chính trị quốc gia 

TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG tiếp tục đăng tải thông tin về các danh nhân, địa danh, tên đường phố, mốc son lịch sử, dân tộc Việt Nam khác trên địa bàn TP. Đà Nẵng. 

Chi tiết các danh nhân, địa danh, tên đường phố, mốc son lịch sử, dân tộc Việt Nam khác, Quý anh/chị vui lòng liên hệ đường dây nóng 0236 1022 để được cung cấp (cước gọi điện 200đ+/phút, KHÔNG THU PHÍ PHỤC VỤ).

TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG: (0236) 1022 hoặc *1022 miễn phí phục vụ  

1. Nhận phản ánh, góp ý của người dân cho Thành phố và chuyển cơ quan chức năng xử lý 
2. Hướng dẫn, giải đáp THỦ TỤC hành chính, quy định, chính sách 
3. Hướng dẫn sử dụng dịch vụ chính quyền điện tử 
4. Cung cấp các thông tin khác của Thành phố (thiên tai, địa điểm, sự kiện, ….) 
5. Cung cấp dịch vụ Call Center , nhắn tin CSKH chuyên nghiệp, GIÁ RẺ NHẤT.

Chuyên mục, tin tức liên quan:




 

Liên kết web Liên kết web

Quản lý video Quản lý video

zalo