Dân tộc Việt Nam: Dân tộc Gié Triêng
Người đăng tin: Linh Hoài Dương Ngày đăng tin: 21/07/2021 Lượt xem: 5

TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG – 0236 1022 kính gửi đến Quý anh/chị thông tin về Dân tộc Gié Triêng

Câu 6. Phong tục, tập quán đặc trưng?
Ăn: Mỗi ngày người Gié Triêng ăn 3 bữa (sáng, trưa, tối). Họ ưa thích các món nướng đối với cá, thịt. Canh cũng là món thường có trong các bữa cơm. Tập quán ăn bốc tồn tại lâu đời (nay việc dùng đũa, bát đã khá rộng rãi). Đồ uống truyền thống là nước lã, rượu cần chế từ gạo, ngô, sắn, kê và rượu chế từ nước một loại cây họ dừa mọc hoang trên rừng. Nam nữ đều hút thuốc lá bằng tẩu.
Ở: Tại huyện Đắc Glây, tỉnh Kon Tum có nhóm Gié và Triêng, tỉnh Quảng Nam có nhóm Bnoong ở huyện Phước Sơn và Trà My, nhóm T’riêng và Ve ở huyện Giằng (nay là huyện Nam Giang). Hình thức nhà sàn dài gồm nhiều "bếp” là lối kiến trúc truyền thống phổ biến, đặc biệt ở vùng người Gié và Bnoong có khi cả làng ở trong một vài ngôi nhà. Về sau, nhà trệt đã xuất hiện đó đây. Ở nhiều nơi, trừ nhóm Bnoong, trong làng thường dựng nhà công cộng cao to và đẹp. Tập quán bố trí nhà tạo thành một vòng ôm quanh khoảng trống ở giữa là một nét văn hóa lâu đời của họ ở Giằng và một số nơi ở Đắc Glây.
Mặc: Theo nếp cổ truyền, nam quấn khố, ở trần, trời lạnh thì choàng tấm vải cho ấm người; nữ mặc áo, quấn váy, có nơi dùng loại váy ống dài để che luôn cả thân trên, từ ngực trở xuống. Phụ nữ ưa đeo nhiều trang sức: các loại vòng bạc, đồng, chuỗi cườm, đeo ở cổ, tay, chân, tai, phụ nữ các gia đình khá giả có cả hoa tai bằng ngà voi. Y phục theo kiểu người Việt hiện tại đã thâm nhập tận các làng xa xôi hẻo lánh.
Cưới xin: Trai gái tự tìm bạn đời, cha mẹ thường chấp thuận nếu không vi phạm tập tục. Việc cưới xin trải qua nhiều bước, bao giờ cũng có lễ kết gắn cô dâu chú rể với nhau (thông qua việc họ đưa cơm với gan gà cho nhau cùng ăn và uống chung bát rượu, hoặc có nơi họ trùm chung tấm chăn), và cô gái phải tự chuẩn bị 100 bó củi đẹp từ trước để đem đến nhà trai. Nhà trai thường tặng nhà gái đồ đan và nhận được của nhà gái những sản phẩm dệt. Trước kia, đôi vợ chồng cư trú luân phiên mỗi bên vài năm. 
Sinh đẻ: Chồng phải làm lều ngoài rừng cho vợ đẻ. Sản phụ tự lo một mình trong sinh nở, sau 10 ngày mới được mang con về nhà. Đứa trẻ được coi là thành viên của gia đình sau khi đã tiến hành một nghi lễ cúng cho trẻ gia nhập vào cộng đồng những người thân thuộc trong nhà. 
Ma chay: Phong tục ở các nhóm không hoàn toàn giống nhau. Song, nét chung là quan tài đẽo độc mộc, có nơi tạc hình đầu trâu trên đầu. Người chết được mai táng (có tài liệu viết xưa kia hỏa táng); nhà mồ dựng không cầu kỳ, có rào xung quanh. Những đồ vật đem ra mộ cho người chết nếu là chiêng, ché thì đều đập thủng hoặc vỡ. Trong quá khứ, người ta từng biết đến tục chôn chung những người chết cách nhau không lâu trong gia đình vào một quan tài. Suốt 10 ngày khi làng có người mới chết, trước khi tang gia cúng “nhắc nhở” cho hồn người chết ở yên bãi mộ, dân làng không vào rừng, không đi làm xa nhà. Nghi thức đoạn tuyệt với mộ người chết thường được tổ chức vào dịp đầu năm cạnh ngôi mộ.
Thờ cúng: Người ta quan niệm có nhiều “thần linh” và mọi vật cũng như con vật, con người đều có siêu linh ẩn trú. Các vị thần Nước, thần Rừng, thần Lửa, thần Trời  (đồng nhất với sấm sét), thần Mặt Trời, thần Đất, thần Làng, thần Lúa, thần Đá, Thần Cây Đa … được người Gié Triêng cầu cúng. Mỗi làng thường có vật “thiêng” như thứ bùa hộ mệnh, được cất giấu ở rừng và giữ bí mật với người ngoài. Dòng họ, gia đình cũng có vật “thiêng” để cầu mùa gắn với canh tác lúa. Ma người chết cũng được coi là một thế lực chi phối đối với cuộc sống. Liên quan đến thế giới siêu nhiên đó, có rất nhiều lễ thức tín ngưỡng theo tập tục.
Lễ tết: Mỗi khi cúng bái đều có hiến tế, mà máu con vật hiến tế là quan trọng nhất. Lễ trọng phải đâm trâu, và xa xưa có nơi phải cúng bằng máu người trong lễ thức đặc biệt liên quan đến thần Lúa. Trong chu kỳ sản xuất hàng năm thường có lễ thức khi chọn đất rẫy, phát rẫy, gieo trỉa, khi hạn hay úng, khi mở đầu tuốt lúa, khi đưa lúa lên kho, khi được 100 gùi lúa trở lên và khi lấy thóc lần đầu về ăn. Gắn với chu kỳ đời người, có các lễ thức trong thời kỳ mang thai, trong và sau khi đẻ, khi đặt tên, khi bị đau ốm, khi cưa răng, trong việc cưới xin, khi chết đi. Tết dân tộc thường sớm hơn Tết Nguyên đán, tổ chức theo làng.
Lịch: Người Gié Triêng căn cứ vào chu kỳ mặt trăng để tính ngày. Theo đó, tên gọi mỗi ngày cụ thể trong tháng phần lớn đều được lặp lại, tuy một ngày ở nửa đầu và một ngày ở nửa cuối tháng. Mỗi tháng có 30 ngày. Mỗi năm 12 tháng. Từng tháng có những công việc trọng tâm nhất định. 
Văn nghệ: Bộ nhạc cụ phong phú, quý giá và quan trọng nhất là cồng-chiêng. Tùy nơi, người ta dùng 3 cồng với 7 hay 9 chiêng, hoặc 6 chiêng, hoặc 4 chiêng…Có khi cồng, chiêng tấu cùng với trống, với ống nứa. Nguyên ống nứa cũng là loại nhạc cụ để thổi, vỗ, gõ. Các loại đàn sáo, khèn đều đơn giản, thông dụng trong đời sống âm nhạc. Người Gié Triêng, cũng như các dân tộc khác, có những làn điệu dân ca cổ truyền và nhiều truyện cổ.

* Tài liệu tham khảo: Hỏi và đáp về 54 dân tộc Việt Nam, Nhà xuất bản chính trị quốc gia 

TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG tiếp tục đăng tải thông tin về các danh nhân, địa danh, tên đường phố, mốc son lịch sử, dân tộc Việt Nam khác trên địa bàn TP. Đà Nẵng. 

Chi tiết các danh nhân, địa danh, tên đường phố, mốc son lịch sử, dân tộc Việt Nam khác, Quý anh/chị vui lòng liên hệ đường dây nóng 0236 1022 để được cung cấp (cước gọi điện 200đ+/phút, KHÔNG THU PHÍ PHỤC VỤ).

TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG: (0236) 1022 hoặc *1022 miễn phí phục vụ  

1. Nhận phản ánh, góp ý của người dân cho Thành phố và chuyển cơ quan chức năng xử lý 
2. Hướng dẫn, giải đáp THỦ TỤC hành chính, quy định, chính sách 
3. Hướng dẫn sử dụng dịch vụ chính quyền điện tử 
4. Cung cấp các thông tin khác của Thành phố (thiên tai, địa điểm, sự kiện, ….) 
5. Cung cấp dịch vụ Call Center , nhắn tin CSKH chuyên nghiệp, GIÁ RẺ NHẤT.

Chuyên mục, tin tức liên quan:




 

Liên kết web Liên kết web

Quản lý video Quản lý video

zalo