Ngày 13/11/2025, UBND thành phố Đà Nẵng ban hành Quyết định số 2538/QĐ-UBND ban hành Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, thay thế Quyết định số 963/QĐ-UBND ngày 11/5/2023.
Phát triển thị trường khoa học và công nghệ thành phố Đà Nẵng đồng bộ, hiện đại, hiệu quả, hội nhập sâu rộng
Mục tiêu đến năm 2030, Chương trình hướng đến phát triển thị trường khoa học và công nghệ (KH&CN) thành phố Đà Nẵng đồng bộ, hiện đại, hiệu quả, hội nhập sâu rộng, góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ, giao dịch tài sản trí tuệ, nâng cao năng lực hấp thụ và đổi mới công nghệ của doanh nghiệp, từ đó cải thiện năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế địa phương.
Liên kết số hóa các kết quả nghiên cứu khoa học, tài sản trí tuệ có tiềm năng thương mại hóa, từng bước hình thành hệ sinh thái dữ liệu phục vụ thị trường KH&CN. Hiện đại hóa hạ tầng kỹ thuật số phục vụ thị trường KH&CN và kết nối liên thông với hệ thống tổ chức trung gian của thị trường KH&CN cấp quốc gia và khu vực.
Hình thành và phát triển 3 tổ chức trung gian của thị trường KH&CN trên địa bàn và kết nối vào mạng lưới các tổ chức trung gian khoa học và công nghệ quốc gia.
Hình thành cơ sở dữ liệu về trình độ công nghệ, nhu cầu công nghệ và năng lực giải mã, hấp thụ, làm chủ công nghệ của doanh nghiệp trong một số ngành kinh tế, lĩnh vực mũi nhọn (chủ lực) trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Hỗ trợ thương mại hóa các kết quả nghiên cứu, sản phẩm khoa học và công nghệ, tài sản trí tuệ từ các viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức KH&CN trên địa bàn thành phố thông qua các hoạt động lựa chọn, đào tạo, quảng bá, kết nối chuyển giao.
Tổ chức tối thiểu 5 sự kiện xúc tiến thị trường KH&CN trong và ngoài nước, lồng ghép vào chuỗi sự kiện đổi mới sáng tạo, xúc tiến thương mại và đầu tư nhằm quảng bá, mở rộng thị trường tiêu thụ các sản phẩm KH&CN của thành phố.
Hoàn thiện, bổ sung và triển khai hiệu quả các cơ chế chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ, phát triển thị trường KH&CN và hoạt động đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp; thúc đẩy mối liên kết hợp tác giữa viện, trường – doanh nghiệp nhằm gia tăng giá trị ứng dụng của các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất và đời sống.

Để thực hiện mục tiêu này, Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ thành phố Đà Nẵng đến năm 2030 đã đưa ra 7 nội dung và giải pháp cụ thể.
Thứ nhất, phát triển nguồn cầu của thị trường KH&CN, nâng cao năng lực hấp thụ, làm chủ và đổi mới công nghệ của doanh nghiệp.
Xây dựng cơ sở dữ liệu về trình độ công nghệ, nhu cầu công nghệ và năng lực giải mã, hấp thụ, làm chủ công nghệ của doanh nghiệp trong một số ngành kinh tế, lĩnh vực mũi nhọn (chủ lực) trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Tổ chức các chương trình đào tạo, tập huấn; các hội thảo, hội nghị giới thiệu công nghệ mới, mô hình chuyển giao công nghệ, các cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, chuyển giao công nghệ…
Tổ chức các hoạt động kết nối, giới thiệu công nghệ mới, công nghệ tiên tiến, các mô hình chuyển giao công nghệ, hỗ trợ đổi mới công nghệ trên địa bàn các phường/xã/đặc khu, phấn đấu mỗi năm tổ chức 03 hoạt động kết nối công nghệ.
Khuyến khích doanh nghiệp thành lập bộ phận R&D; thành lập Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp để đầu tư cho R&D.
Hỗ trợ ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp KH&CN; hỗ trợ hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.
Xây dựng lộ trình đổi mới công nghệ đến năm 2035 đối với các ngành kinh tế mũi nhọn, xác định công nghệ cốt lõi, chiến lược có thể tạo đột phá và tổ chức triển khai lộ trình đổi mới công nghệ.
Thúc đẩy hợp tác doanh nghiệp – viện, trường theo hướng đặt hàng hoặc hình thành dự án nghiên cứu, ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp KH&CN.
Thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
Thứ hai, phát triển nguồn cung của thị trường KH&CN.
Triển khai hiệu quả các chương trình, nhiệm vụ KH&CN cấp thành phố nhằm thúc đẩy phát triển thị trường KH&CN thành phố, theo phương châm lấy doanh nghiệp làm trung tâm.
Tiếp tục triển khai chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ trên địa bàn thành phố, trong đó có hỗ trợ hoạt động nghiên cứu và triển khai, chuyển giao công nghệ.
Tiếp tục triển khai chương trình phát triển tài sản trí tuệ trên địa bàn thành phố.
Tổ chức triển lãm, hội nghị, hội thảo khoa học kết nối thúc đẩy chuyển giao công nghệ, nhập khẩu, giải mã các công nghệ lõi, công nghệ tiên tiến, công nghệ sạch, ưu tiên công nghệ từ các nước phát triển thông qua các viện nghiên cứu, trường đại học, cao đẳng, tổ chức, doanh nghiệp, doanh nghiệp KH&CN, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, giúp doanh nghiệp hấp thụ và làm chủ công nghệ, đẩy nhanh tốc độ đổi mới công nghệ.
Hỗ trợ thương mại hóa các kết quả nghiên cứu, tài sản trí tuệ của thành phố thông qua việc tổ chức các hoạt động lựa chọn, đào tạo, tập huấn, quảng bá, kết nối chuyển giao các kết quả nghiên cứu khoa học, các sản phẩm công nghệ của các viện, trường, tổ chức, doanh nghiệp, doanh nghiệp KH&CN, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, nhà khoa học…
Thứ ba, phát triển các tổ chức trung gian của thị trường KH&CN.
Quản lý nguồn cung và cầu công nghệ tại địa phương, hỗ trợ doanh nghiệp phổ biển, cập nhật, kết nối, giới thiệu, quảng bá sản phẩm công nghệ trên hệ thống Sàn giao dịch công nghệ quốc gia.
Đẩy mạnh hình thành và phát triển tổ chức trung gian của thị trường KH&CN có vai trò đầu mối, cung cấp các dịch vụ công về thị trường KH&CN.
Khuyến khích hình thành và hỗ trợ hoạt động của các tổ chức trung gian của thị trường KH&CN gồm: Sàn giao dịch công nghệ, trung tâm giao dịch công nghệ, trung tâm xúc tiến và hỗ trợ hoạt động chuyển giao công nghệ, trung tâm hỗ trợ định giá tài sản trí tuệ, trung tâm hỗ trợ đổi mới sáng tạo, cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp KH&CN.
Khuyến khích và hỗ trợ kết nối mạng lưới tổ chức, chuyên gia cho các tổ chức trung gian của thị trường KH&CN trong hoạt động tư vấn sở hữu trí tuệ, định giá công nghệ, thẩm định một số công nghệ dự án đầu tư.
Thứ tư, tăng cường hoạt động xúc tiến thị trường KH&CN.
Tổ chức, tham gia các sự kiện xúc tiến thị trường KH&CN trong và ngoài nước; quảng bá thị trường khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo hướng lồng ghép, phối hợp với các sự kiện đổi mới sáng tạo, kết nối cung – cầu công nghệ, xúc tiến thương mại và đầu tư theo cả hai phương thức trực tuyến và trực tiếp.
Xúc tiến phát triển thị trường KH&CN của thành phố ở các lĩnh vực có nguồn cung công nghệ cao, tiên tiến, thân thiện môi trường; mở rộng phát triển tại các thị trường tiềm năng mà Việt Nam có lợi thế thông qua các hiệp định thương mại tự do.
Xúc tiến xuất khẩu các công nghệ, sản phẩm và dịch vụ của các tổchức/doanh nghiệp KH&CN, doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.
Thứ năm, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, truyền thông và hội nhập quốc tế về thị trường KH&CN.
Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho các tổ chức trung gian và đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về thị trường KH&CN.
Triển khai các hoạt động truyền thông nhằm nâng cao nhận thức xã hội và quảng bá thành tựu phát triển thị trường KH&CN, đổi mới sáng tạo.
Đào tạo đội ngũ chuyên gia về tư vấn công nghệ, môi giới, thẩm định và định giá công nghệ, tài sản trí tuệ.
Thứ sáu, phát triển hạ tầng, cơ sở vật chất phục vụ phát triển thị trường khoa học và công nghệ.
Hình thành và phát triển hạ tầng kỹ thuật số thị trường khoa học và công nghệ thành phố Đà Nẵng; thiết kế và ứng dụng các công cụ phân tích, thống kê, số hóa và xử lý dữ liệu công nghệ.
Xúc tiến hình thành sàn giao dịch công nghệ quốc gia tại Đà Nẵng.
Thứ bảy, hoàn thiện cơ chế chính sách phát triển thị trường KH&CN.
Rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ nhằm thúc đẩy phát triển thị trường KH&CN thành phố; đẩy mạnh hợp tác viện, trường – doanh nghiệp trong hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, giải mã công nghệ, triển khai ứng dụng công nghệ mới, tiên tiến, đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp.
UBND thành phố Đà Nẵng giao Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành; UBND các phường, xã, đặc khu và các đơn vị liên quan tổ chức triển khai thực hiện hiệu quả Chương trình này; sử dụng kinh phí Chương trình bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm, tránh lãnh phí, đúng quy định.
Chương trình phát triển thị trường KH&CN đến năm 2030 được xây dựng trên cơ sở Quyết định 1158/QĐ-TTg ngày 13/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình phát triển thị trường KH&CN quốc gia đến năm 2030. Đặc biệt, Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 của Quốc hội về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh – hợp nhất toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam thành thành phố Đà Nẵng mới – đặt ra yêu cầu phải điều chỉnh lại Chương trình để phù hợp với quy mô và định hướng phát triển của địa bàn sau sáp nhập.
Trên cơ sở đó, Sở Khoa học và Công nghệ đã tiến hành rà soát toàn diện và cập nhật nội dung Chương trình và lấy ý kiến rộng rãi các sở, ban, ngành, UBND phường/xã, các trường đại học, viện nghiên cứu, hội/hiệp hội doanh nghiệp và các tổ chức liên quan. Qua đó, 51 ý kiến góp ý đã được tiếp thu và hoàn thiện trước khi trình UBND thành phố ban hành.
Tổng đài 1022
TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG: (0236) 1022 hoặc *1022, miễn phí phục vụ
1. Đường dây nóng tiếp nhận ý kiến phản ánh, góp ý của tổ chức, công dân.
2. Hướng dẫn, giải đáp quy định, chính sách, thông tin kinh tế – xã hội.
3. Hướng dẫn thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến.
4. Cung cấp thông tin về hỗ trợ doanh nghiệp; quy định, chính sách hỗ trợ Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
5. Cung cấp thông tin về du lịch, sự kiện Văn hóa – Thể thao.
6. Cung cấp dịch vụ Tổng đài CSKH, nhắn tin CSKH, truyền thông, sự kiện và các dịch vụ tư vấn khác…


English