1. Thông tư 35/2012/TT-NHNN Quy định về phí dịch vụ thẻ ghi nợ nội địa
Theo thông tư 35/2012/TT-NHNN, bắt đầu từ ngày 01/03/2013 các tổ chức phát hành thẻ được thu phí dịch vụ thẻ đối với chủ thẻ theo loại phí, mức phí do Giám đốc của tổ chức quy định nhưng phải bảo đảm nằm trong khuôn khổ và lộ trình đối với loại phí theo quy định của Thông tư này (chưa bao gồm thuế VAT).
Cụ thể: Phí phát hành thẻ từ 0 – 100.000 đồng/thẻ; phí thường niên từ 0 – 60.000 đồng/thẻ/năm; phí vấn tin tài khoản ngoại mạng từ 0 – 500 đồng/giao dịch; phí in sao kê tài khoản hoặc chứng từ vấn tin tài khoản nội mạng từ 100 – 500 đồng/giao dịch, ngoại mạng từ 300 – 800 đồng/giao dịch; phí chuyển khoản từ 0 – 15.000 đồng/giao dịch.
Riêng phí rút tiền mặt ATM nội mạng sẽ được thực hiện theo lộ trình: Từ ngày 01/03/2013 đến 31/12/2013, mức phí từ 0 – 1.000 đồng/giao dịch; từ ngày 01/01/2014 đến 31/12/2014, mức phí từ 0 – 2.000 đồng/giao dịch; từ ngày 01/01/2015 trở đi, mức phí từ 0 – 3.000 đồng/giao dịch; còn phí ngoại mạng chỉ được thu trong khung từ 0 – 3.000 đồng/giao dịch.
Ngoài ra thông tư cũng quy định Nguyên tắc thu phí dịch vụ thẻ, theo đó:
– Tổ chức phát hành thẻ được thu phí dịch vụ thẻ đối với chủ thẻ theo loại phí, mức phí do Tổng Giám đốc (Giám đốc) tổ chức phát hành thẻ quy định tại biểu phí dịch vụ thẻ của tổ chức mình nhưng phải bảo đảm nằm trong khuôn khổ và lộ trình quy định đối với các loại phí nêu tại Biểu khung mức phí dịch vụ thẻ ghi nợ nội địa (Phụ lục) ban hành kèm theo Thông tư này.
– Tổ chức phát hành thẻ không được thu thêm phí ngoài biểu phí dịch vụ thẻ đã ban hành.
– Tổ chức phát hành thẻ không được thu phí từ chủ thẻ đối với những giao dịch thẻ không thành công hoặc giao dịch thẻ bị sai sót không phải do lỗi của chủ thẻ.
– Tổ chức thanh toán thẻ, tổ chức chuyển mạch thẻ không được thu phí dịch vụ thẻ đối với chủ thẻ.
– Đơn vị chấp nhận thẻ không được thu phí giao dịch POS đối với chủ thẻ.
2. Cấm áp đặt hạn mức rút tiền tại ATM thấp hơn 2 triệu
Đây là quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tại Thông tư 36/2012/TT-NHNN ngày 28/12/2012 quy định về trang bị, quản lý, vận hành và đảm bảo an toàn hoạt động của máy giao dịch tự động.
Theo Thông tư này, NHNN quy định cụ thể về việc trang bị, quản lý, vận hành và đảm bảo an toàn hoạt động của ATM; trong đó, đối với ATM, NHNN yêu cầu các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán không được áp đặt hạn mức cho một lần rút tiền tại ATM thấp hơn 02 triệu đồng; tại nơi đặt ATM phải có hướng dẫn hoặc biểu tượng để nhận biết các loại thẻ được chấp nhận, số liện hệ với bộ phận hỗ trợ và đơn vị quản lý ATM; có bản hướng dẫn sử dụng ATM…
Đồng thời, đối với vấn đề an toàn, bảo mật hoạt động ATM, NHNN yêu cầu các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán có trách nhiệm bảo mật dữ liệu, thông tin khách hàng trong quá trình xử lý, truyền và lưu trữ dữ liệu; trang bị camera giám sát với hình ảnh được lưu trữ tối thiểu 100 ngày và thiết bị chống sao chép, trộm cắp thông tin…
Ngoài ra, Thông tư cũng quy định về việc lắp đặt, thay đổi địa điểm, chấm dứt hoạt động ATM cũng như về quản lý, vận hành ATM, cụ thể như: Hệ thống ATM phải đảm bảo thời gian phục vụ khách hàng 24/24 giờ trong ngày và 7/7 ngày trong tuần; tổ chức cung ứng dịch vụ thành toán phải thực hiện việc tiếp quỹ để bảo đảm thời gian ATM hết tiền không quá 04 giờ làm việc và không quá 01 ngày nếu ngoài giờ làm việc đối với ATM nằm trong nội đô, thị xã, trung tâm huyện; không quá 08 giờ làm việc và không quá 01 ngày nếu ngoài giờ làm việc đối với các trường hợp khác…
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/03/2013.
3. Điều chỉnh mức thu phí, lệ phí trong lĩnh vực y, dược
Bộ Tài chính mới ban hành Thông tư số 03/2013/TT-BTC quy định phí thẩm định kinh doanh thương mại có điều kiện; thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề y, dược; lệ phí cấp giấy phép xuất, nhập khẩu trang thiết bị y tế, dược phẩm; cấp chứng chỉ hành nghề y; cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám, chữa bệnh.
Theo Thông tư này, phí thẩm định kinh doanh thương mại có điều kiện thuộc lĩnh vực y, dược, mức thấp nhất 300.000 đồng/hồ sơ đối với phí thẩm định cấp giấy phép lưu hành trang thiết bị y tế; mức cao nhất 8 triệu đồng/hồ sơ đối với phí thẩm định hồ sơ cấp giấy chứng nhận đăng ký lưu hành chính thức hoá chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn dùng trong gia dụng và y tế.
Thông tư cũng quy định mức phí thẩm định tiêu chuẩn và điều kiện hành nghề dược cao nhất là 20 triệu đồng/lần đối với việc thẩm định tiêu chuẩn và điều kiện sản xuất thuốc, mỹ phẩm, bao bì dược phẩm (đăng ký GMP) và thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện đồng thời cả sản xuất, kiểm nghiệm và bảo quản thuốc (cơ sở đăng ký cả GMP, GLP và GSP). Phí thẩm định hồ sơ cấp chứng chỉ hành nghề dược là 500.000 đồng/lần. Phí thẩm định tiêu chuẩn và điều kiện kinh doanh thuốc đối với cơ sở bán buôn (GDP) đối với doanh nghiệp 4 triệu đồng/lần, đại lý 1 triệu đồng/lần.
Về Tổ chức thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí, Thông tư quy định: Bộ Y tế, Bộ Quốc phòng và Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện công việc được thu phí, lệ phí tại Thông tư này là cơ quan thu phí, lệ phí.
Thông tư này có hiệu lực từ ngày 1/3/2013.
4. Áp mức phạt gấp 02 nếu hàng giả là lương thực thực phẩm
Ngày 10/01/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 08/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả.
Theo đó, hình thức phạt tiền sẽ được áp dụng xử phạt tùy theo hành vi vi phạm, tính chất và mức độ vi phạm, đối tượng vi phạm với mức tiền phạt từ 100.000 – 70.000.000 đồng đối với hành vi buôn bán hàng giả; từ 200.000 – 100.000.000 đồng đối với hành vi sản xuất hàng giả. Riêng đối với hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh, thức ăn chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi; phụ gia thực phẩm, hóa mỹ phẩm, trang thiết bị y tế, xi măng, sắt thép xây dựng, mũ bảo hiểm…hoặc tem, nhãn, bao bì giả của các loại hàng hóa này mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ bị áp mức phạt gấp 02 lần mức tiền phạt thông thường nhưng không quá mức tối đa nêu trên.
Cũng theo Nghị định này, Chính phủ quy định cụ thể các hình thức xử phạt hành chính, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng trường hợp sản xuất, buôn bán hàng giả, tiêu biểu như: Đối với hành vi buôn bán hàng giả không có giá trị sử dụng, công dụng, phạt tiền từ 500.000 – 50.000.000 đồng tùy theo giá trị số lượng hàng thật tương đương; đồng thời áp dụng hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả như: như tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề..; buộc tiêu hủy hàng giả; buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc nộp lại số tiền thu được từ buôn bán hàng giả vào ngân sách Nhà nước…
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/03/2013 và bãi bỏ các quy định trước đó trái với nôi dung quy định tại Nghị định này.
5. Tài sản hạ tầng đường bộ được ghi sổ hạch toán phải có nguyên giá từ 10 triệu đồng
Ngày 11/01/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 10/2013/NĐ-CP quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, trong đó đáng chú ý là những quy định về hạch toán tài sản đường bộ.
Theo Nghị định này, tài sản hạ tầng đường bộ đủ tiêu chuẩn để ghi sổ hạch toán là những tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định, thỏa mãn đủ 02 điều kiện: Có thời gian sử dụng từ 01 năm trở lên và có nguyên giá từ 10 triệu đồng trở lên.
Những tài sản hạ tầng là đối tượng ghi sổ hạch toán bao gồm: đường và các công trình phụ trợ gắn liền với đường; cầu đường bộ dài từ 25m trở lên và các công trình phụ trợ gắn liền với cầu đường bộ; hầm đường bộ và các công trình phụ trợ gắn liền với bến phà đường bộ; trạm kiểm tra trọng tải xe, trạm thu phí đường bộ; bến xe…Trong trường hợp một tài sản hạ tầng đường bộ do nhiều cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý thì đối tượng ghi sổ hạch toán của mỗi cơ quan, đơn vị là phần sản thuộc phạm vi được giao quản lý.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/03/2013.
6. Thủ tướng quyết định đầu tư đối với dự án xây dựng đô thị trên 100 ha
Ngày 14/01/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 11/2013/NĐ-CP về quản lý đầu tư và phát triển đô thị, trong đó đáng chú ý là những quy định về thẩm quyền chấp thuận đầu tư với các dự án đầu tư xây dựng khu đô thị mới.
Cụ thể, Nghị định chỉ rõ, Thủ tướng Chính phủ quyết định chấp thuận đầu tư sau khi có ý kiến thẩm định của Bộ Xây dựng đối với các dự án có quy mô sử dụng đât từ 100 ha trở lên và dự án thuộc địa giới hành chính của hai tỉnh trở lên hoặc khu vực có ý nghĩa quan trọng về an ninh, quốc phòng. Bên cạnh đó, UBND cấp tỉnh quyết định chấp thuận đầu tư đối với các dự án có quy mô sử dụng đất từ 20 ha đến dưới 100 ha sau khi có ý kiến thống nhất bằng văn bản của Bộ Xây dựng. Đồng thời, UBND cấp tỉnh có quyền quyết định chấp thuận đầu tư các dự án còn lại.
Ngoài ra, Nghị định cũng có quy định cụ thể về điều kiện của chủ đầu tư dự án xây dựng khu đô thị. Đối với chủ đầu tư là doanh nghiệp, ngoài việc có đăng kí kinh doanh phù hợp với việc thực hiện dự án, thì phải có vốn đầu tư thuộc sở hữu của mình không thấp hơn 15% tổng mức đầu tư của dự án có quy mô sử dụng đất dưới 20 ha, không thấp hơn 20% tổng mức đầu tư của dự án có quy mô sử dụng đất từ 20 ha trở lên đối với các dự án đầu tư xâydựng khu đô thị; có vốn đầu tư thuộc sở hữu của mình không thấp hơn 20% tổng mức đầu tư của dự án đối với các dự án còn lại…
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/03/2013 và thay thế đối với Nghị định số 02/2006/NĐ-CP ngày 05/01/2006.
7. Quản lý tài liệu lưu trữ điện tử
Nghị định số 01/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Lưu trữ, trong đó quy định cụ thể về quản lý tài liệu lưu trữ điện tử.
Theo đó, Nghị định yêu cầu tài liệu điện tử hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức phải được lập hồ sơ, lựa chọn và bảo quản theo nghiệp vụ lưu trữ và kỹ thuật công nghệ thông tin trong hệ thống quản lý tài liệu điện tử.
Trong đó, hệ thống quản lý tài liệu điện tử phải bảo đảm các yêu cầu kỹ thuật để tài liệu lưu trữ điện tử có tính xác thực, toàn vẹn, nhất quán, an toàn thông tin, có khả năng truy cập ngay từ khi tài liệu được tạo lập.
Đối với tài liệu lưu trữ điện tử hình thành từ việc số hóa tài liệu lưu trữ trên các vật mang tin khác phải đáp ứng các tiêu chuẩn dữ liệu thông tin đầu vào. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm sử dụng chữ ký số đối với tài liệu số hóa. Đồng thời các cơ quan, tổ chức, cá nhân không được hủy tài liệu lưu trữ có giá trị bảo quản vĩnh viễn sau khi tài liệu đó được số hóa.
Về quy định thu thập tài liệu lưu trữ điện tử, Nghị định quy định trường hợp tài liệu lưu trữ điện tử và tài liệu lưu trữ giấy có nội dung trùng nhau thì thu thập cả hai loại.
Khi giao nhận tài liệu lưu trữ điện tử, Lưu trữ cơ quan, Lưu trữ lịch sử phải kiểm tra tính xác thực, tính toàn vẹn và khả năng truy cập của hồ sơ. Đồng thời, hồ sơ phải bảo đảm nội dung, cấu trúc và bối cảnh hình thành và được bảo vệ để không bị hư hỏng hoặc hủy hoại, sửa chữa hay bị mất dữ liệu.
Nghị định số 01/2013/NĐ-CP có hiệu lực từ 1/3/2013.
8. Không được sử dụng hộ chiếu ngoại giao cho mục đích cá nhân
Ngày 24/12/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 58/2012/QĐ-TTg về việc sử dụng và quản lý hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu công vụ.
Theo đó, Thủ tướng Chính phủ quy định không được sử dụng hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu công vụ để đi nước ngoài với mục đích cá nhân. Ngoài ra, người được cấp hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu công vụ chỉ được sử dụng một loại hộ chiếu còn giá trị sử dụng cho mỗi đi công tác nước ngoài phù hợp với Quyết định cử đi công tác và tính chất công việc thực hiện ở nước ngoài, trừ trường hợp đặc biệt theo hướng dẫn của Bộ Ngoại giao. Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhập cảnh Việt Nam sau khi kết thúc chuyến công tác ở nước ngoài, người được cấp hộ chiếu phải nộp lại hộ chiếu cho cơ quan quản lý hộ chiếu, trừ trường hợp có lý do chính đáng do Thủ trưởng cơ quan quản lý hộ chiếu quyết định.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/03/2013.
9. Quy định hạn chế, bổ sung mặt hàng nhập khẩu từ nước láng giềng
Ngày 27/12/2012, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 42/2012/TT-BCT quy định Danh mục hàng hóa được sản xuất từ nước có chung biên giới nhập khẩu vào nước CHXHCN Việt Nam dưới hình thức mua, bán, trao đổi hàng hóa cư dân biên giới (sau đây gọi là Danh mục hàng hóa).
Thông tư này đã có quy định mới về việc hạn chế và bổ sung mặt hàng trong Danh mục hàng hóa trong những trường hợp cần thiết. Cụ thể như sau: Trong trường hợp cần đảm bảo an toàn thực phẩm, phòng ngừa dịch bệnh qua biên giới hoặc an ninh lương thực quốc gia, Bộ trưởng Bộ Công Thương thống nhất với các thành viên Ban Chỉ đạo Thương mại biên giới ban hành quyết định không cho phép cư dân biên giới được nhập khẩu một số mặt hàng trong Danh mục.
Về cơ bản, Danh mục hàng hóa được quy định tại Thông tư này vẫn giữ nguyên những mặt hàng như quy định trước đây. Danh mục này bao gồm 35 mặt hàng, có thể kể đến như: cá sống, cá làm khô, muối hoặc ngâm nước muối; cá hun khói, đã hoặc chưa làm chín trước hoặc trong quá trình hun khói; đậu tương, đã hoặc chưa vỡ mảnh; nguyên liệu thực vật chủ yếu dùng để tết bện; rau, một số loại củ; ngô, lúa gạo; hạt điều; muối ăn; cao su tự nhiên; xi măng Portland, xi măng nhôm, xi măng xỉ, xi măng super sulphat và xi măng chịu nước tương tự, đã hoặc chưa pha màu hoặc ở dạng clanhke; phân bón; dây cáp điện; bút bi; bút chì; cặp, túi đeo vai cho học sinh…
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/03/2013 và thay thế Thông tư số 10/2010/TT-BCT ngày 29/03/2010.
10. Bảo vệ doanh nghiệp Nhà nước được hưởng chế độ như thương binh, liệt sỹ
Ngày 09/01/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 06/2013/NĐ-CP quy định về bảo vệ cơ quan, doanh nghiệp; trong đó đáng lưu ý là quy định về chế độ, chính sách đối với nhân viên bảo vệ cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước và tổ chức chính trị.
Cụ thể, Chính phủ quy định trong khi thi hành nhiệm vụ, nếu nhân viên bảo vệ bị thương, bị hy sinh thì được xem xét và có thể được công nhận hưởng chế độ như thương binh, liệt sỹ và các hình thức khen thưởng khác theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với các mạng và pháp luật về thi đua, khen thưởng.
Bên cạnh đó, chế độ, chính sách của nhân viên bảo vệ tại các cơ quan, doanh nghiệp khác vẫn được áp dụng, thực hiện theo hợp đồng lao động như thông thường.
Cũng theo Nghị định này, Chính phủ quy định nhân viên bảo vệ các cơ quan, doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện tối thiểu như: Là công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên; có lý lịch rõ ràng; có trình độ học vấn tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên (hoặc trung học cơ sở trở lên đối với miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa); đồng thời phải được huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ bảo vệ và được cấp giấy chứng nhận bởi Công an cấp tỉnh hoặc cấp tương đương…
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/03/2013 và thay thế Nghị định số 73/2001/NĐ-CP ngày 05/10/2001.
11. Giảm thuế nhập khẩu đối với dây thép không hợp kim
Đây là chủ trương của Bộ Tài chính tại Thông tư số 12/2013/TT-BTC ngày 21/01/2013 về việc sửa đổi mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi mặt hàng dây thép không hợp kim thuộc mã số 7217.10.39 tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo Danh mục mặt hàng chịu thuế tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư số 193/2012/TT-BTC ngày 15/11/2012.
Theo đó, kể từ ngày 07/03/2013, mức thuế suất nhập khẩu mặt hàng dây của sắt hoặc thép không hợp kim, không được mạ hoặc tráng, có hàm lượng carbon từ 0,6% trở lên tính (không bao gồm dây thép làm nan hoa; dây tanh; thép dây dẹt cuộn tang; thép dây dự ứng lực; dây thép dễ cắt gọt) sẽ được điều chỉnh giảm xuống còn 3% (so với quy định cũ là 5%).
Mức thuế suất đối với các mặt hàng khác trong nhóm 7217 vẫn được giữ nguyên, cụ thể: 15% với dây sắt, thép không hợp kim có hàm lượng carbon dưới 0,15%; từ 0 – 10% đối với dây có hàm lượng carbon từ 0,25% đến dưới 6%…
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 07/03/2013.
12. Vẫn phải nhập ngũ khi có giấy báo nhập học
Đây là một trong những nội dung sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 175/2011/TTLT-BQP-BGDĐT ngày 13/9/2011 của Bộ Quốc phòng và Bộ GD-ĐT hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 38/2007/NĐ-CP ngày 15/3/2007 của Chính phủ về việc tạm hoãn gọi nhập ngũ và miễn gọi nhập ngũ thời bình đối với công dân nam trong độ tuổi gọi nhập ngũ.
Theo quy định, đối tượng tạm hoãn gọi nhập ngũ là công dân có anh, chị hoặc em ruột là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ và học viên là hạ sĩ quan, binh sĩ đang học tập tại các trường quân đội, trường ngoài quân đội theo kế hoạch của Bộ Quốc phòng.
Công dân đang học tập tại các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân theo hình thức giáo dục chính quy tập trung gồm: Trường trung học phổ thông, trường phổ thông có nhiều cấp học, trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường chuyên, trường năng khiếu, dự bị đại học; Trường trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề, cao đẳng nghề; Các đại học, trường cao đẳng, trường đại học; Học viện, viện nghiên cứu có nhiệm vụ đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ và tương đương; Các trường của tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được phép đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam. Học viên đang học tập trung theo chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở hoặc cấp trung học phổ thông tại các cơ sở giáo dục. Công dân đi du học tại các trường ở nước ngoài có thời gian đào tạo mười hai tháng trở lên.
Nay, bổ sung thêm quy định, công dân đang học tập tại các trường theo quy định trên được tính từ ngày công dân đã làm xong thủ tục nhập học và đang học tập tại trường. Trường hợp công dân nhận được lệnh gọi nhập ngũ và giấy báo nhập học vào các trường trong cùng một thời điểm thì phải chấp hành Lệnh gọi nhập ngũ và không thuộc đối tượng được xét tạm hoãn gọi nhập ngũ.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 7/3/2013.
TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG: (0236) 1022 hoặc *1022, miễn phí phục vụ
1. Đường dây nóng tiếp nhận ý kiến phản ánh, góp ý của tổ chức, công dân.
2. Hướng dẫn, giải đáp quy định, chính sách, thông tin kinh tế – xã hội.
3. Hướng dẫn thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến.
4. Cung cấp thông tin về hỗ trợ doanh nghiệp; quy định, chính sách hỗ trợ Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
5. Cung cấp thông tin về du lịch, sự kiện Văn hóa – Thể thao.
6. Cung cấp dịch vụ Tổng đài CSKH, nhắn tin CSKH, truyền thông, sự kiện và các dịch vụ tư vấn khác…


English