Đường phố mang tên danh nhân: Thượng tướng Đàm Quang Trung

0:00



TỔNG ĐÀI THÔNG TIN DỊCH VỤ CÔNG



–


05113 881 888, 1900 94 96


kính gửi đến Quý anh/chị thông tin về Thượng tướng Đàm Quang Trung.



Thượng tướng Đàm Quang Trung (1921-1995) là một tướng lĩnh Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông cũng từng là một chính khách, từng giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, kiêm Chủ tịch Hội đồng Dân tộc từ 1987 đến 1992. Tại Đà Nẵng, con đường mang tên Thượng tướng Đàm Quang Trung có chiều dài 930m, rộng 4,5m, thuộc quận Liên Chiểu.

Thượng tướng Đàm Qung Trung, tên thật là Đàm Ngọc Lưu, sinh ngày 12/9/1921 tại bản Nà Nghiềng, xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 14 tuổi. Năm 1940, Ông bị thực dân Pháp bắt và quản thúc tại địa phương. Năm 1941, Ông được lãnh tụ Hồ Chí Minh cử đi học ở trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc) cùng các ông Hoàng Văn Thái, Vũ Lập, Hoàng Minh Thảo, Nam Long… Ở trường Hoàng Phố, Ông được học in litô. Nhân có ông Phạm Văn Đồng sang, Ông mạnh dạn xin báo cáo với lãnh tụ Hồ Chí Minh được học quân sự.

Tháng 7/1944, Ông chỉ huy Đội vệ binh bảo vệ Trung ương và lãnh tụ Hồ Chí Minh ở Tân Trào. Có 5 nhân viên tình báo Mỹ nhảy dù xuống Việt Bắc nhằm phối hợp với Việt Minh giải giáp vũ khí của Phát-xít Nhật, Ông được chỉ định làm Đại Đội trưởng Đại đội Việt – Mỹ. Tháng 9 năm 1944, Ông tham gia xây dựng cơ sở cách mạng và huấn luyện du kích ở vùng biên giới phía Bắc. Ngay sau khi Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập ngày 22/12/1944, Ông xin gia nhập.

Trong cách mạng tháng 8 năm 1945, Ông là đại đội trưởng Giải phóng quân tham gia giành chính quyền ở Thái Nguyên. Ngày 2/9/1945, Ông được giao chỉ huy cuộc duyệt binh chào mừng ngày Quốc khánh và chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập. Ngày 29/3/1946, Ông chỉ huy cuộc diễu binh thiện chí giữa quân đội quốc gia Việt Nam với quân đội Pháp tại vườn hoa Canh Nông, nay là công viên đặt tượng đài Lê-nin.

Ngày 22/9/1946, núp bóng quân Anh quân Pháp trở lại nổ súng xâm lược Nam Bộ. Ông lên đường Nam tiến chi viện cho chiến trường miền Nam và chi đội 4 hay còn gọi là chi đội Đàm Quang Trung. Sau hiệp định sơ bộ về đình chiến, Ông ra Bắc và được cử giữ chức Khu trưởng Đặc khu Hà Nội. Tháng 12 năm 1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Ông lại Nam tiến và là Chỉ huy trưởng mặt trận Quảng Nam Đà Nẵng rồi là Phó Tư lệnh Liên khu 5 kiêm Trung đoàn trưởng Trung đoàn chủ lực của liên khu.

Khi Đại đoàn 312-Đại đoàn chiến thắng được thành lập, Ông ra Bắc đảm nhận vị trí Đại đoàn phó. Từ năm 1953 đến năm 1954, Ông cùng Đại đoàn của mình tham gia đánh nhiều trận giải phóng Thượng Lào rồi là một trong năm đại đoàn chủ lực tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Ngày 1/1/1955, Ông vinh dự được chỉ huy cuộc diễu binh chào mừng chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương về lại Thủ đô sau 9 năm kháng chiến.

Bước vào thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Năm 1955, Ông là Đại đoàn trưởng Đại đoàn 312 rồi Tư lệnh Quân khu Đông Bắc kiêm Đại đoàn trưởng Đại đoàn 322. Sau đó, Ông sang Liên Xô theo học tại Học viện Quân sự mang tên Frunde và là học viên xuất sắc ở đây. Tháng 10/1957, Ông có vinh dự tham gia chủ tịch đoàn cuộc mít-tinh trọng thể chào mừng chủ tịch Hồ Chí Minh sang dự lễ kỉ niệm 40 năm cách mạng tháng 10 Nga.

Trở về nước từ năm 1958 đến năm 1961, Ông là Phó Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn rồi từ năm 1961 đến năm 1966 Ông là Tư lệnh Quân khu Việt Bắc. Từ tháng 8 năm 1966 đến năm 1967, Ông là Tư lệnh Bộ Tư lệnh tiền phương Bộ Quốc phòng tại mặt trận B4 (Quảng Trị). Từ năm 1967 đến năm 1973, Ông là Chính ủy kiêm Bí thư Quân khu ủy Quân khu 4. Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1968, Ông chỉ huy bộ đội đánh thành cổ Quảng Trị. Trong thời gian này, Ông còn giữ các chức vụ Tư lệnh pháo binh mặt trận có mặt tại chiến trường đường 9 rồi sau đó là Tư lệnh Tăng Thiết giáp. Từ năm 1973 đến năm 1975, Ông là Tư lệnh Quân khu 4 thay cho tướng Vương Thừa Vũ.

Đất nước thống nhất, từ năm 1976 đến năm 1980, Ông là Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 1 rồi từ năm 1980 đến 1986 là Tư lệnh Quân khu 1. Từ năm 1987 đến năm 1992, Ông là Phó Chủ tịch Hội đồng nhà nước kiêm Chủ tịch hội đồng dân tộc. Ông là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 4 đến 6. Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 5. Ông cũng là Đại biểu Quốc hội khóa 4 đến khóa 8. Ông nghỉ hưu năm 1992 và mất ngày 3/3/1995 tại Hà Nội. Ông được xem là vị tướng chiến thuật bậc thầy của Việt Nam trong các chiến dịch có sự phối hợp hiệp đồng giữa pháo binh và xe tăng.


Tài liệu tham khảo: Nghị quyết của HĐND thành phố Đà Nẵng, khóa VI, ngày 12/11/2002 về đặt tên một số đường của thành phố Đà Nẵng.





TỔNG ĐÀI THÔNG TIN DỊCH VỤ CÔNG


tiếp tục đăng tải thông tin về các danh nhân, địa danh, tên đường phố trên địa bàn TP. Đà Nẵng.


Chi tiết các danh nhân, địa danh, tên đường phố khác,

Quý anh/chị vui lòng liên hệ đường dây nóng


05113 881 888


để được cung cấp (cước gọi điện 200đ/phút, KHÔNG THU PHÍ PHỤC VỤ).

.nd_dichvu_cntt img{float:none;}

TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG: (0236) 1022 hoặc *1022, miễn phí phục vụ  
1. Đường dây nóng tiếp nhận ý kiến phản ánh, góp ý của tổ chức, công dân.
2. Hướng dẫn, giải đáp quy định, chính sách, thông tin kinh tế – xã hội.
3. Hướng dẫn thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến.
4. Cung cấp thông tin về hỗ trợ doanh nghiệp; quy định, chính sách hỗ trợ Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
5. Cung cấp thông tin về du lịch, sự kiện Văn hóa – Thể thao.
6. Cung cấp dịch vụ Tổng đài CSKH, nhắn tin CSKH, truyền thông, sự kiện và các dịch vụ tư vấn khác…

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *