Vấn đề tai nạn giao thông và văn hóa an toàn trong tham gia giao thông ở Việt Nam đang đặt ra một cách nhức nhối. ICT Đà Nẵng giới thiệu đến độc giả bài nghiên cứu của Tiến sĩ Nhan Hồng Quang, phóng viên báo Nhân đạo và Đời sống về vấn đề này.
I. Đặt vấn đề
Việt Nam là nước có số người chết vì tai nạn giao thông (TNGT) nhiều nhất trong số 10 nước thành viên ASEAN và là một trong những quốc gia có TNGT nhiều nhất trên thế giới. Mỗi năm cả nước có gần 12.000 người chết và 9.300 người bị thương do tai nạn giao thông. Số người chết bằng 75% và số người bị thương bằng 150% tổng số nạn nhân thương vong trong vụ động đất, sóng thần ở Nhật Bản. Thống kê tai nạn giao thông trên toàn quốc từ năm 2011 đến 9 tháng đấu năm 2015 được trình bày trên đồ thị dưới đây:
Nhìn vào hình trên ta có thể thấy rằng, số vụ tai nạn giao thông giảm từ năm 2011 đến năm 2013 nhưng bắt đầu có xu hướng tăng trở lại từ năm 2014 cho đến năm 2015. Số người chết do tai nạn giao thông vì thế cũng có xu hướng tăng lên.
Theo ước tính sơ bộ, trong số các vụ tai nạn giao thông có 68% vụ liên quan đến xe máy; 16% liên quan đến các phương tiện vận tải hàng hóa, xe khách và chỉ có khoảng 5% vụ liên quan đến người đi bộ. Tuy số lượng các vụ tai nạn không nhiều, nhưng các phương tiện vận tải hàng hóa và xe khách lại gây ra những tai nạn đặc biệt nghiêm trọng làm chết và bị thương nhiều người. Chỉ tính riêng trong năm 2013, toàn quốc có 58 vụ tai nạn giao thông đường bộ đặc biệt nghiêm trọng mà phần lớn liên quan đến xe khách thuộc xe tư nhân, xe tải nặng và doanh nghiệp vận tải nhỏ không có thương hiệu. Riêng đối với thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM), theo số liệu thống kê, năm 2010 trong khoảng 14.442 vụ tai nạn giao thông xảy ra trên cả nước, thì TPHCM có 969 vụ, làm chết 788 người và bị thương 404 người. Tính riêng các loại phương tiện vận tải nặng, trong năm 2010 đã gây ra 200 vụ tai nạn giao thông trên địa bàn thành phố làm chết 178 người, bị thương nặng 63 người. Trong tháng 1 năm 2011, loại phương tiện này đã gây ra 13 vụ tai nạn giao thông, cướp đi sinh mạng của 13 người.
Đối với một quốc gia đang trong quá trình phát triển như Việt Nam, các phương tiện giao thông cá nhân (phương tiện gây nên gần ¾ số vụ tai nạn giao thông) chiếm tỷ trọng cao là điều khó tránh khỏi. Tuy nhiên, vấn đề quản lý hiệu quả hệ thống an toàn giao thông đối với các doanh nghiệp kinh doanh vận tải là việc làm rất cần thiết. Một trong những giải pháp quan trọng là tạo lập và nuôi dưỡng văn hóa an toàn trong tham gia giao thông cho mọi người
2. Văn hóa an toàn với doanh nghiệp kinh doanh vận tải
Có một thực tế là hiện nay nhiều doanh nghiệp còn buông lỏng quản lý kinh doanh vận tải, dẫn đến lái xe vi phạm an toàn giao thông, có một khoảng cách giữa lái xe trong doanh nghiệp chấp hành tốt các quy định với các lái xe chạy ẩu, liên tục vi phạm. Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng trong số 13 nhóm nguyên nhân gây tai nạn giao thông thì nhân tố hàng đầu là hành vi của người tham gia giao thông sau đó mới đến cơ sở hạ tầng và phương tiện. Kết quả nghiên cứu cũng đã cho thấy rằng có đến một phần ba số vụ tai nạn giao thông đường bộ hiện hành liên quan đến người điều khiển phương tiện. Rõ ràng là công nhân lái xe làm việc có tổ chức sẽ có điều kiện cải thiện kỹ năng nghề nghiệp hơn các lái xe tư nhân. Các doanh nghiệp cũng có những lợi ích thương mại rõ ràng vì họ có thể áp dụng những quy định của mình về hệ thống quản lý lái xe an toàn đối với lái xe, chẳng hạn như lợi ích tài chính liên quan đến giảm tỷ lệ tai nạn và nâng cao trách nhiệm pháp lý thực hiện trách nhiệm chăm sóc khi để xảy ra tai nạn. Vấn đề ở chỗ liệu có mối quan hệ giữa văn hóa an toàn của doanh nghiệp vận tải và đội ngũ lái xe của họ đối với hành vi lái xe an toàn và trách nhiệm của họ khi xảy ra tai nạn hay không. Mối quan hệ đó sẽ nâng cao hiểu biết về các yếu tố văn hóa an toàn ảnh hưởng mạnh mẽ đến thái độ của người lái xe. Từ đó họ có thể đề xuất các khuyến nghị thực tiễn như cải thiện văn hóa an toàn như thế nào để có thể góp phần giảm nguy cơ tai nạn đối với nghề tham gia giao thông (đối với lái xe chuyên nghiệp, tham gia giao thông là nghề nghiệp của họ).
Thống kê chính thức cho thương vong liên quan đến nghề nghiệp tham gia giao thông ở nước ta vẫn còn rất hạn chế. Tuy nhiên, các phân tích cho thấy tai nạn liên quan đến xe khách, xe tải nặng và nhẹ, là một trong hai loại chính gây ra các vụ tai nạn, chiếm 26% của tất cả các trường hợp tử vong và khoảng 17% của tất cả các chấn thương tai nạn giao thông nghiêm trọng trong tổng số tai nạn giao thông do phương tiện vận tải gây ra.
Chúng ta biết rằng, nỗ lực để đạt được tiêu chuẩn an toàn cao trước tiên cần phải nhận thức được tầm quan trọng của văn hóa. Tất cả các cá nhân bị ảnh hưởng mạnh bởi các văn hóa mà họ là một phần trong đó. Văn hóa ảnh hưởng đến giá trị của con người, niềm tin và có thể dần dần xác định hành vi của họ. Cá nhân có thể dễ dàng ‘quên an toàn’ nhưng văn hóa an toàn có thể bù đắp cho điều này bằng cách thường xuyên nhắc nhở và đưa ra cách thức làm việc để duy trì cảnh giác. Để xác định các lĩnh vực cần cải thiện một cách hiệu quả nhất trong việc quản lý rủi ro giao thông liên quan đến công nhân lái xe, cần thiết phải chú trọng các yếu tố đóng góp chủ đạo: Tình trạng cơ sở hạ tầng, áp lực công việc, tình trạng chuyên môn, sức khỏe nghề nghiệp và thái độ tham gia giao thông của lái xe.
Một cơ chế quản lý rủi ro giao thông nghề nghiệp nặng nề, với hệ thống quản lý kém sẽ là nguyên nhân gia tăng căng thẳng đối với lái xe và không giúp lái xe lường trước và đánh giá rủi ro. Căng thẳng do sức ép thương mại từ cạnh tranh trên đường, cùng với sự mệt mỏi ngày càng tăng dẫn đến tình trạng làm việc quá sức. Lập kế hoạch tốt rất quan trọng để giúp giảm bớt căng thẳng và mệt mỏi. Do đó, nó cũng là yếu tố quan trọng trong việc quản lý rủi ro nghề tham gia giao thông (có thể gọi là giao thông nghề nghiệp).
Đến nay vẫn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau về hiệu quả đào tạo lái xe để kiểm soát rủi ro giao thông nghề nghiệp. Người ta vẫn tin rằng thay đổi thái độ của con người đối với việc lái xe an toàn sẽ mang lại sự cải thiện lâu dài hơn so với đào tạo kỹ năng nghề nghiệp lái xe. Cuối cùng, người ta cũng quan tâm đến việc thiếu tuân thủ các quy tắc tham gia giao thông của lái xe nói chung. Vấn đề ở chỗ là cần phải xác định được những yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến rủi ro giao thông nghề nghiệp nhằm tập trung các biện pháp cải thiện. Yếu tố trực tiếp được xác định là sự tương quan mệt mỏi/sự tỉnh táo, thái độ cá nhân, áp lực/căng thẳng, thái độ tuân thủ và sự điều chỉnh hành vi của đội ngũ lái xe. Ở cấp độ chính sách, yếu tố quan trọng được xác định là ký kết hợp đồng chiến lược, sở hữu và kiểm soát, cơ cấu tổ chức, quản lý an toàn và lợi nhuận. Ở cấp độ tổ chức, sáu trong số bảy yếu tố được xác định (không bao gồm lương) nhóm lại như là thành phần cơ bản của văn hóa an toàn của doanh nghiệp bao gồm: đào tạo, quy trình, quy hoạch, thông tin phản hồi sự cố, quản lý và thông tin liên lạc, từ đó cung cấp dấu hiệu ban đầu về tầm quan trọng cảu văn hóa an toàn trong quản lý rủi ro giao thông nghề nghiệp.
Mối quan hệ giữa văn hóa an toàn của doanh nghiệp, thái độ của công nhân lái xe và trách nhiệm khi xảy ra tai nạn cần phải được xác định rõ nhằm mục đích mang lại lợi ích tiềm năng của việc cải thiện thiện văn hóa an toàn trong giao thông của doanh nghiệp.
Cần khuyến khích hơn nữa các doanh nghiệp thực hiện văn hóa an toàn như một cách để giảm nguy cơ tai nạn giao thông. Điều đó thể hiện ở mối quan hệ giữa thái độ của lái xe và trách nhiệm bồi thường thiệt hại (có nghĩa là nguy cơ tai nạn). Các nghiên cứu cho thấy có một mối quan hệ tương đối giữa tỷ lệ tai nạn và thái độ lái xe. Cụ thể hơn, tỷ lệ tai nạn thấp tương ứng với tỷ lệ phần trăm cao nhất đối với thái độ tích cực của công nhân lái xe và ứng với tỷ lệ phần trăm thấp nhất của người lái xe có thái độ tiêu cực và ngược lại.
Hiện nay, một số tổ chức được coi là đã tạo ra văn hóa an toàn lành mạnh và bền vững như vậy. Nhiều ngành công nghiệp nguy cơ rủi ro cao như hạt nhân, hóa dầu và hàng không từ lâu đã tham gia sâu vào quá trình “kỹ thuật” văn hóa an toàn. Và một phần quan trọng của quá trình này là trước tiên phải hiểu được bản chất chính xác của văn hóa hiện có của họ. Từ đó xác định điểm yếu tiềm năng ở đâu để thiết kế thay đổi về mặt tổ chức nhằm giúp xây dựng và duy trì văn hóa an toàn. Theo truyền thống, an toàn đối với lái xe thường chỉ tập trung vào bản thân lái xe và xe.
Tuy nhiên, điều đó đã làm chúng ta quên mất bối cảnh mà người lái đang làm việc và không phản ánh được phương pháp tiếp cận hệ thống làm nền tảng cho các yếu tố khoa học nhân văn hiện đại trong mối quan hệ giữa các vấn đề an toàn tổng quát và nguyên nhân gây tai nạn. Văn hóa an toàn của doanh nghiệp có thể coi như là cách thức mà các doanh nghiệp nghĩ và hành động theo hướng an toàn trong hệ thống an toàn mà họ đang có. Điều này mang hàm ý dễ dàng dự kiến sự tương đồng tại vị trí làm việc cố định với một lực lượng lao động không đổi nơi các giá trị là rõ ràng và minh bạch. Trong trường hợp công nhân lái xe trên đường, điều quan trọng là phải nhận thức được những đặc trưng và sức mạnh của văn hóa an toàn cần thiết để chuyển chúng thành giá trị cá nhân.
Đồng thời, lái xe phải làm thế nào để đương đầu với những yếu tố ngoại cảnh tác động đến trong hành trình của mình, thậm chí đôi khi phải đối mặt với văn hóa khác lạ tại các điểm dừng trung gian trên đường. Trong trường hợp của vận tải đường bộ, cần phải xác định những ảnh hưởng sẽ tạo động lực cho doanh nghiệp giải quyết vấn đề an toàn giao thông. Ví dụ, người thợ máy mang vật liệu nguy hại phải xuất trình được cách thức đảm bảo an toàn cho chúng một cách cụ thể. Có thể nói, ngành công nghiệp dầu khí đã đi đầu trong các sáng kiến văn hóa an toàn với một hệ thống quản lý an toàn phát triển áp dụng các giải pháp tổ chức cần thiết để đạt được mục tiêu điều chỉnh thái độ cá nhân đối với vấn đề an toàn.
Nhiều nỗ lực được thực hiện nhằm khuyến khích thực hiện các nguyên tắc an toàn ngoài nơi làm việc đối với tất cả các khía cạnh của cuộc sống hàng ngày. Mặc dù không có số liệu chính xác tuy nhiên, có thể thấy có rất nhiều trường hợp tai nạn của các ngành công nghiệp liên quan đến vận tải đường bộ. Rõ ràng là cần thiết phải nghiên cứu mối quan hệ giữa văn hóa an toàn doanh nghiệp với tai nạn giao thông do nghề nghiệp, nghiên cứu sử dụng hiệu quả các cơ chế, các ảnh hưởng liên quan để giảm thiểu rủi ro khi tham gia giao thông.
Ví dụ, các doanh nghiệp với thương hiệu mạnh có thể cung cấp một cơ chế làm việc văn hóa, thông qua đó nâng cao an toàn giao thông. Chẳng hạn đối với một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giao nhận có liên quan với một vài doanh nghiệp khác: vấn đề như lập kế hoạch, quan hệ công việc giữa các lái xe và các khác biệt đáng kể về địa điểm phụ thuộc vào người lái xe đang di chuyển giữa các cơ sở riêng của họ hoặc đang đến với đối tác thứ ba đóng tại nơi có thể có xung đột về văn hóa ứng xử, có thể gây nên sự chậm trễ hoặc tình tiết tăng nặng đối với người lái xe. Các điều khoản và điều kiện (của cả hợp đồng cá nhân và hợp đồng thương mại) gây áp lực cá nhân của người sử dụng lao động lên lái xe có thể được coi là những ảnh hưởng bất lợi có thể làm suy yếu văn hóa an toàn. Và do đó khái niệm văn hóa an toàn trong trường hợp này sẽ mở rộng hơn. Cũng như các đặc tính riêng của lái xe, các hoàn cảnh trên đường cần phải được nghiên cứu cụ thể để thực sự tạo ra nét riêng trong văn hóa an toàn của doanh nghiệp.
3. Kết luận
Xây dựng nếp sống văn hoá giao thông là một việc làm mang tính cấp bách nhất là trong điều kiện đất nước ta đang hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới. Nhìn vào bức tranh giao thông sẽ thấy được một phần rất quan trọng hình ảnh của con người và đất nước Việt Nam. Chính vì vậy, việc xây dựng văn hóa an toàn đối với doanh nghiệp vận tải có thể đóng góp những giá trị không nhỏ trong hành trình giảm thiểu tai nạn giao thông, hạn chế những mất mát không đáng có về tài sản, tính mạng của nhân dân.
TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG: (0236) 1022 hoặc *1022, miễn phí phục vụ
1. Đường dây nóng tiếp nhận ý kiến phản ánh, góp ý của tổ chức, công dân.
2. Hướng dẫn, giải đáp quy định, chính sách, thông tin kinh tế – xã hội.
3. Hướng dẫn thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến.
4. Cung cấp thông tin về hỗ trợ doanh nghiệp; quy định, chính sách hỗ trợ Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
5. Cung cấp thông tin về du lịch, sự kiện Văn hóa – Thể thao.
6. Cung cấp dịch vụ Tổng đài CSKH, nhắn tin CSKH, truyền thông, sự kiện và các dịch vụ tư vấn khác…


English