500 CÂU HỎI ĐÁP VỀ BIỂN, ĐẢO [Câu 243: Chiến lược bảo vệ an ninh – quốc phòng trên biển của Việt Nam được xây dựng trải qua các bước như thế nào?]

0:00



TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG

–

0236 1022



Kính thông tin đến Quý anh/chị 500 CÂU HỎI ĐÁP VỀ BIỂN, ĐẢO [Câu 243: Chiến lược bảo vệ an ninh – quốc phòng trên biển của Việt Nam được xây dựng trải qua các bước như thế nào?]
Sau năm 1975, đất nước thống nhất, vị thế Việt Nam ngày càng được khẳng định trên trường quốc tế. Trong khi đó, bối cảnh quốc tế có nhiều thay đổi, nhân loại từng bước quan tâm hơn tới biển, đảo. Những nhân tố đó có tác động rất tích cực trong việc thay đổi tư duy chiến lược của Việt Nam. Nhằm phục vụ mục tiêu mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (1976) đề ra là thực hiện hai nhiệm vụ xây dựng đất nước và bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, Chiến lược bảo vệ an ninh – quốc phòng nói chung và Chiến lược bảo vệ an ninh – quốc phòng trên biển Việt Nam đã được xây dựng và từng bước triển khai.

Tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1977) và việc tham gia Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 là bước đi cụ thể cho thấy quyết tâm ra biển của Việt Nam, nhằm khẳng định chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, bảo đảm các quyền lợi biển của đất nước, phù hợp với các quy định của luật pháp và tập quán quốc tế về biển. Sự kiện này thể hiện sự nhanh nhạy của các cơ quan tham mưu chiến lược trong nắm bắt trước xu thế, trào lưu chung của quốc tế và khu vực có liên quan, đánh dấu một sự chuyển biến chiến lược trong nhận thức của Việt Nam về vai trò của biển, đảo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong giai đoạn trước Đổi mới (1986), các văn bản pháp quy của Nhà nước Việt Nam được xây dựng đã tập trung vào việc mở rộng các vùng biển càng xa bờ càng tốt và thắt chặt quyền kiểm soát đối với tàu thuyền nước ngoài. Quan điểm này được thể hiện trong Tuyên bố về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam ngày 12/11/1982 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cũng như trong 2 nghị định của Chính phủ về quản lý biển là Nghị định số 30/CP ngày 29/01/1980 về Quy chế cho tàu thuyền nước ngoài hoạt động trên các vùng biển Việt Nam và Nghị định số 31/CP ngày 29/01/1980 về Hoạt động của tàu cá nước ngoài trong các vùng biển Việt Nam. Tiếp đó, ngày 12/02/1986, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 13/HĐBT về Tăng cường bảo vệ chủ quyền và an ninh các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam. Tuy nhiên, do hoàn cảnh đất nước lúc đó, đặc biệt là tình hình kinh tế còn nhiều yếu kém, việc triển khai thực hiện Quyết định số 13/HĐBT chưa được triệt để.

Sau khi hai cuộc chiến tranh biên giới (1978 – 1979) kết thúc, nhất là từ khi đất nước bước vào thời kỳ Đổi mới, chiến lược an ninh – quốc phòng tập trung vào nhiệm vụ bảo đảm an ninh cho phát triển kinh tế, kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng này xuyên suốt từ các Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986), VII (1991), VIII(1996), IX (2001), X (2006), XI (2011) của Đảng, các nghị quyết của Bộ Chính trị cho đến Nghị quyết Trung ương 08 khóa IX về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới (2003) và Nghị quyết Trung ương 04 khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến 2020.

Tài liệu tham khảo: 500 câu Hỏi Đáp về biển, đảo Việt Nam (Nhà xuất bản Thông tấn).



TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG


tiếp tục đăng tải Hỏi Đáp khác của 500 câu hỏi về biển, đảo Việt Nam.


Chi tiết các câu hỏi – trả lời khác

, Quý anh/chị vui lòng liên hệ đường dây nóng


0236 1022


để được cung cấp (cước gọi điện 200đ+/phút, KHÔNG THU PHÍ PHỤC VỤ).

TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG: (0236) 1022 hoặc *1022, miễn phí phục vụ  
1. Đường dây nóng tiếp nhận ý kiến phản ánh, góp ý của tổ chức, công dân.
2. Hướng dẫn, giải đáp quy định, chính sách, thông tin kinh tế – xã hội.
3. Hướng dẫn thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến.
4. Cung cấp thông tin về hỗ trợ doanh nghiệp; quy định, chính sách hỗ trợ Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
5. Cung cấp thông tin về du lịch, sự kiện Văn hóa – Thể thao.
6. Cung cấp dịch vụ Tổng đài CSKH, nhắn tin CSKH, truyền thông, sự kiện và các dịch vụ tư vấn khác…

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *