Báo cáo tình hình kinh tế xã hội năm 2022

0:00
TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG NĂM 2022
Stt Tiêu chí Năm 2022
Ước đạt Lũy kế Kế hoạch năm Tỷ lệ so với cùng kỳ
I TÌNH HÌNH KINH TẾ – XÃ HỘI, QUỐC PHÒNG – AN NINH NĂM 2022
1 Về kinh tế
a Dịch vụ
Hoạt động du lịch 
– Số lượt khách cơ sở lưu trú phục vụ. Trong đó: Ước đạt 3,69 triệu lượt Đạt 105,5% Gấp 3,1 lần
– Doanh thu dịch vụ lưu trú và lữ hành Ước đạt 8.872 tỷ đồng Đạt 132,4% Gấp 3,8 lần
Doanh thu bán lẻ hàng hóa Ước đạt 66.223 tỷ đồng Đạt 103,5% +15,7%
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) 
Kim ngạch xuất khẩu  Ước đạt 2.071 triệu USD Đạt 104% +15,8%
Kim ngạch nhập khẩu Ước đạt 1.694 triệu USD Đạt 111,78% +27,4%
Hoạt động vận tải
– Doanh thu dịch vụ vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải Ước đạt 21.548 tỷ đồng +28,9%
– Khối lượng luân chuyển hành khách Ước đạt 794 triệu Hk.km Đạt 107,3% +36,7%
– Khối lượng luân chuyển hàng hóa Ước đạt 4.415 triệu T.km Đạt 107,7% +18,7%
Doanh thu hoạt động thông tin, truyền thông Ước đạt 16.303 tỷ đồng Đạt 98,4% +4,4%
Kim ngạch xuất khẩu phần mềm  Ước đạt 132 triệu USD Đạt 120% +11,9%
Hoạt động ngân hàng 
– Tổng nguồn vốn huy động 173.000 tỷ đồng +12,34%
– Dư nợ các thành phần kinh tế trên địa bàn Đạt 220.500 tỷ đồng +10,55%
b Hoạt động sản xuất công nghiệp
Chỉ số sản xuất công nghiệp thành phố Chỉ số sản xuất công nghiệp thành phố (IIP) năm 2022 ước tăng 9,1% so với năm 2021 (KH năm 2022: tăng 4-5%).
c Hoạt động sản xuất thủy sản- nông-lâm 
-Tổng sản lượng thủy hải sản năm 2022. Trong đó: Ước đạt 37.686 tấn Đạt 99,2% +5,9%
Sản lượng thuỷ sản khai thác Ước đạt 36.307 tân +6,4%
2 Thu hút đầu tư trong, ngoài nước
– Tổ chức thành công Diễn đàn đầu tư năm 2022 ; thành lập Tổ công tác liên ngành về Xúc tiến và Hỗ trợ đầu tư; hoàn thành quy trình chuẩn bị đầu tư đối với các dự án đầu tư không sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước thực hiện ngoài các Khu công nghiệp, Khu công nghệ cao, Khu công nghệ thông tin tập trung; hoàn thành xây dựng đề án Nghiên cứu kêu gọi, xúc tiến các nhà đầu tư lớn đầu tư vào các khu công nghiệp mới (Hòa cầm – Giai đoạn 2, Hòa Nhơn, Hòa Ninh) và Khu công nghiệp hỗ trợ Khu công nghệ cao Đà Nẵng”. Chủ động, linh hoạt tiếp cận (trực tuyến, trực tiếp) và làm việc với các nhà đầu tư tiềm năng để kêu gọi đầu tư, đồng thời hỗ trợ các doanh nghiệp, nhà đầu tư trước, trong và sau cấp giấy Chứng nhận đăng ký đầu tư (thành phố đã làm việc với 60 lượt nhà đầu tư đang quan tâm đến môi trường đầu tư của thành phố, thực hiện khảo sát thực địa, giới thiệu địa điểm đầu tư…). Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn năm 2022 ước đạt 37.559 tỷ đồng, đạt 111,6% kế hoạch năm, tăng 11,5% so với năm 2021.
– Lũy kế từ đầu năm 2022 đến ngày 15/11/2022: thành phố đã cấp Quyết định chủ trương đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 29 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư 10.058,93 tỷ đồng, gấp 2 lần về số vốn so với năm 2021, trong đó: có 10 dự án ngoài KCN, tổng với vốn đầu tư 6.136,65 tỷ đồng và 19 dự án trong các KCN, khu CNC, khu CNTT với tổng vốn đầu tư 3.922,28 tỷ đồng; Cấp mới 42 dự án FDI với tổng vốn đầu tư đăng ký: 69,356 triệu USD, đạt 46,39% so với năm 2021 , có 33 lượt dự án tăng vốn với tổng vốn đầu tư tăng thêm: 5,694 triệu USD, đạt 55,71 % so với với tổng giá trị 57,746 triệu USD, tăng 1.577% so với năm 2021; cấp mới giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho 4.169 doanh nghiệp, chi nhánh và văn phòng đại diện, tổng vốn điều lệ đăng ký 21.049,5 tỷ đồng; tăng 29,5% về số doanh nghiệp và tăng 37,5% về số vốn so với năm 2021.
– Lũy kế đến nay, trên địa bàn thành phố có 36.383 doanh nghiệp và chi nhánh, văn phòng đại diện đang hoạt động với tổng so vốn đăng kỷ đạt 241.108 tỷ đồng; 363 dự án đầu tư trong nước ngoài KCN với tổng vốn đầu tư 140.819,95 tỷ đồng; có 386 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư là 30.461,8 tỷ đồng và có 946 dự án đã cấp với tổng vốn đăng ký 4,063 tỷ USD.
3 Quản lý đầu tư – xây dựng cơ bản và tài nguyên môi trường
a Quản lý đầu tư – xây dựng cơ bản
– Thành phố tập trung chỉ đạo, đôn đốc đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn được giao. Chính thức đến ngày 30/11/2022, giải ngân kế hoạch vốn dự toán giao nãm 2022 toàn thành phố đạt 3.950 tỷ đồng, bằng 66,2% kế hoạch Trung ương giao và đạt 50,1% kế hoạch HĐND thành phố giao. Trường hợp loại trừ nguồn vay lại 418 tỷ đồng trong kế hoạch thì giải ngân đạt 71,2% kế hoạch trung ương giao và 53% kế hoạch thành phố giao; nếu tiếp tục loại trừ nguồn dự phòng chưa phân bổ 475 tỷ đồng thì giải ngân đạt 56,5% kế hoạch HĐND thành phố giao. Ngoài ra, kế hoạch vốn năm 2021 kéo dài sang năm 2022 đã giải ngân 68,696 tỷ đồng, đạt 18% kế hoạch vốn kéo dài. Uớc đến hết năm 2022 (niên khóa tài chính thanh toán vốn đến hết ngày 31/01/2023), giải ngân kế hoạch vốn năm 2022 đạt trên 100% kế hoạch Trung ương giao, đảm bảo tỷ lệ theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, đồng thời phấn đấu giải ngân đạt mức cao nhất kế hoạch do HĐND thành phố giao.
– Trong năm thành phố đã tổ chức Lễ khánh thành và đưa vào sử dụng nhiều cồng trình; (1) công trình trọng điểm: Vườn tượng APEC mở rộng (Khu đất bên cạnh công viên APEC), công trình Cải tạo cụm nút giao thông phía Tây cầu Trần Thị Lý, dự án Nhà máy nước Hòa Liên cơ bản hoàn thành; Tuyến cống thu gom nước thải đường Nguyễn Tất Thành (cơ bản hoàn thành, đang hoàn trả mặt bằng); Đường ven sông Tuyên Sơn – Túy Loan; Trạm trung chuyển rác thải khu vực Sơn Trà (200 tấn/ngày); Nâng cấp Cảng cá Thọ Quang; HTKT Cụm công nghiệp cẩm Lệ – giai đoạn 1; Khu Công nghệ cao Đà Nẵng; gói thầu số 10 và 12 thuộc dự án Nâng cấp mở rộng cảng cá Thọ Quang, thành phố Đà Nẵng; (2) các công trình khác: Khu Nghĩa trang tại thôn An Châu; dự án Cải tạo, nâng cấp đường Tô Hiệu (đoạn từ đường Tôn Đức Thẵng đến đường sắt Bắc Nam); Cải tạo, nâng cấp đường Lâm Hoành; Trụ sở UBND phường Phước Ninh (dự kiến); Cải tạo Bể bơi thành tích cao Đà Nẵng (dự kiến); Đầu tư xây dựng các bãi đỗ xe trên địa bàn thành phố; Dự án Phát triển bền vững thành phố Đà Nẵng (dự kiến)…
b Công tác quy hoạch, phát triển đô thị và tài nguyên môi trường
– Tiếp tục triển khai Quy hoạch thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Thành phố đã phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức thành công hội thảo, tọa đàm xin ý kiến các chuyên gia, nhà khoa học, Bộ, ngành, các Vụ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đối với nội dung quy hoạch thành phố Đà Nẵng và ĐMC vào ngày 10/8/2022. Tiếp thu, giải trình các ý kiến góp ý của bộ, ngành trung ương, chuyên gia, nhà khoa học tại Hội thảo; xin ý kiến một số nội dung để hoàn chỉnh dự thảo Quy hoạch.
– Tiếp tục triển khai Điều chỉnh Quy hoạch chung thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đến nay, UBND thành phố đã lập Nhiệm vụ quy hoạch của 18/19 phân khu, đã thẩm định, phê duyệt Nhiệm vụ quy hoạch của 16/19 phân khu, phê duyệt 01/19 đồ án quy hoạch phân khu; phê duyệt 05 Nhiệm vụ quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật (bao gồm: nghĩa trang, cấp nước, cấp điện, chiêu sáng, giao thông).
– Công tác quản lý quy hoạch kiến trúc, phát triển đô thị, hạ tầng kỹ thuật, nhà ở và quản lý các hoạt động xây dụng tiếp tục được triển khai thực hiện; chỉ đạo triển khai Nghị định số 16/2022/NĐ-CP của Chính phủ về Quy định xử phạt hành chính về xây dựng; công bố giá vật liệu xây dựng, chỉ số giá xây dựng định kỳ theo quy định; hoàn thành, triển khai chạy thử ứng dụng cổng thông tin quy hoạch kiến trúc thành phố Đà Nẵng; trình HĐND thành phố thông qua Nghị quyết 35/2022/NQ-HDND quy định việc phân cấp quyết định nhiệm vụ quy hoạch xây dựng thuộc thẩm quyền quyết định của HĐND thành phố. Đã hoàn thành xây dựng Quy chế quản lý kiến trúc thành phố Đà Nẵng, điều chỉnh Chương trình phát triển đô thị thành phốô Đà Nẵng giai đoạn 2021-2030 và điều chỉnh Chương trình phát triển nhà ở thành phố giai đoạn 2021-2030, dự kiến báo cáo HĐND thành phố tại Kỳ họp cuối năm 2022. Đôn đốc tiến độ các dự án Hạ tầng kỹ thuật khu dân cư, khu tái định cư dở dang trên địa bàn thành phố; triển khai thực hiện công tác đảm bảo thoát nước, an toàn cây xanh, điện chiếu sáng, chủ động ứng phó với mưa bão, thiên tai năm 2022.
4 Công tác thu, chi và quản lý, điều hành ngân sách
Ước năm 2022, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn là 23.578 tỷ đồng, đạt 120,1% dự toán, tăng 3,1% so với năm 2021, trong đó: thu nội địa đạt 18.348 tỷ đồng, đạt 121,4% dự toán (thu nội địa không kể tiền sử dụng đất, SXKT 15.553,7 tỷ đồng, đạt 127% dự toán; thu tiền sử dụng đất 2.600 tỷ đồng, đạt 96,3% dự toán); thu thuế xuất nhập khẩu 5.201 tỷ đồng, đạt 115,6% dự toán. Tổng chi ngân sách địa phương (không kể chi chuyển nguồn) là 15.595 tỷ đồng, đạt 95,4% dự toán HĐND giao, trong đó chi đầu tư phát triển là 6.935 tỷ đồng, đạt 85,8% dự toán HĐND giao, chi thường xuyên là 8.658 tỷ đồng, đạt 111,5% dự toán HĐND giao.
– Thành phố đã làm việc với Trung ương về việc tăng tỷ lệ điều tiết lên 83% cho Đà Nẵng trong giai đoạn 2023-2025; có Tờ trình số 32/TTr-UBND ngày 08/3/2022 đề nghị Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành trung tâm tài chính quy mô khu vực” và Thủ tướng Chính phủ đã có chủ trương thành lập cơ quan thường trực Ban chỉ đạo xây dựng Đề án này; Công vãn số 1608/UBND-KT ngày 29/3/2022 gửi Văn phòng Chính phủ bổ sung hồ sơ trình dự thảo Đề án; Công văn số 3700/UBND-STC ngày 05/7/2022 tiếp thu ý kiến của Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư để hoàn thiện dự thảo Đề án.
– Về triển khai thực hiện mô hình chính quyền đô thị, HĐND thành phố đã thông qua Nghị quyết 28/2022/NQ-HĐND ngày 14/7/2022 quy định mức khoán kinh phí hoạt động của các tổ chức chính trị – xã hội ở phường, xã, dưới phường, xã và tổ dân phố, thôn. Hiện nay, đang tiếp tục rà soát, đề xuất sửa đổi Nghị quyết số 52/2021/NQ- HĐND ngày 17/12/2021 của HĐND thành phố quy định phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi của các cấp ngân sách; nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách địa phưong năm 2022 để khắc phục các vướng mắc về lĩnh vực tài chính, ngân sách khi thực hiện quản lý ngân sách theo mô hình tổ chức chính quyền đô thị để trình tại kỳ họp HĐND thành phố cuối năm 2022.
5 Các lĩnh vực văn hóa, xã hội 
Khoa học – Công nghệ
Công tác quản lỷ hoạt động nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng các nhiệm vụ khoa học và công nghệ được triển khai tích cực . Xây dựng kế hoạch và triển khai hoạt động khởi nghiệp, đối mới sáng tạo; hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, phát triển thị trường công nghệ  và triển khai chương trình nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm hàng hóa. Triển khai Chương trình phát triển tài sản trí tuệ đến năm 2030, thực hiện hỗ trợ các tổ chức kinh tế tập thể xác lập quyền sở hữu trí tuệ và phát triển tài sản trí tuệ đối với các sản phẩm OCOP . Tiếp tục triển khai thi công Dự án Điều chỉnh xây dựng Trung tâm Công nghệ sinh học kết hợp với Cơ sở nuôi cấy mô tế bào thực vật (giai đoạn 2) theo tiến độ ; tiến hành các thủ tục điều chỉnh dự án Xây dựng trụ sở làm việc Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng; xây dựng phương án cải tạo, sửa chữa trụ sở 58 Nguyễn Chí Thanh làm trụ sở hoạt động Trung tâm Hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.
Văn hóa – Thể thao
– Hồ sơ Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Danh lam thắng cảnh quốc gia đặc biệt Ngũ Hành Sơn đã được Hội đồng thẩm định Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cơ bản thống nhất, đang hoàn thiện hồ sơ để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; Văn khắc Hán Nôm Ngũ Hành Sơn đã được UNESCO công nhận là di sản tư lỉệu ký ức thế giới Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương; thực hiện các nội dung liên quan đến Đề án mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO. Phối hợp tổ chức thành công hội thảo khoa học “70 năm chiến thắng Đồn Nhất – Hải Vân Quan” (25-9-1952 – 25-9-2022) – Dấu ấn lịch sử, kinh nghiệm về xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân”. Hoạt động biểu diễn nghệ thuật diễn ra thường xuyên, đều đặn, các hoạt động văn hóa – lễ hội hai bên bờ sông Hàn đã để lại dấu ấn văn hóa đặc trưng. Chỉ đạo và hướng dẫn triển khai, nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và thực hiện Đề án “Xây dựng nếp sống văn hóa văn minh đô thị” đi vào thực chất và chất lượng. Hoàn thành “Đề án xây dựng chính sách phát triển văn hóa đồng bào dân tộc thiểu số thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2022-2030”.
– Thành phố đã tổ chức thành công Đại hội Thể dục thể thao cấp thành phố và cấp quận, huyện; triển khai xây dựng Đề án “Phát triển thể thao quần chúng với việc nâng cao sức khỏe, cải thiện thể trạng người dân thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2022-2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Đoàn VĐV thể thao thành tích cao thành phố tham gia thi đấu đạt tổng cộng 143 HCV, 129 HCB, 218 HCD . Tiếp tục thực hiện Đồ án phát triển thể thao thành tích cao giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Y tế
Triển khai quyết liệt các biện pháp giám sát, xét nghiệm, phân tầng, phân tuyến điều trị phù hợp, qua đó kiểm soát hiệu quả dịch bệnh COVID- 19, sốt xuất huyết; triển khai phương án ứng phó với bệnh đậu mùa khỉ và chủ động giám sát theo dõi các dịch bệnh nguy hiểm khác để xử lý kịp thời . Đảm bảo công tác thu dung, điều trị, chăm sóc người bệnh an toàn hiệu quả . Triển khai hoạt động các chương trình mục tiêu y tế, dân số theo kế hoạch. Từng bước tháo gỡ khó khăn trong thực hiện công tác mua sắm, đấu thầu đảm bảo thuốc, vật tư y tế, sinh phẩm, hóa chất phục vụ công tác phòng chống dịch, khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân; đến nay thành phố đã phê duyệt Quyết định số 2950/QĐ-UBND ngày 16/11/2022, đã lập hồ sơ mời thầu và đang thẩm định, dự kiến cuối tháng 12 sẽ phát hành hồ sơ mời thầu đấu thầu tập trung tại Sở Y tế cung cấp bổ sung thuốc năm 2022 – 2023 cho các cơ sở y tế trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Phối hợp với các cơ quan chức năng, thực hiện thanh tra, kiểm tra, kiểm toán việc huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực phòng chống dịch COVID-19.
Giáo dục và đào tạo
Năm học 2021-2022, trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 diễn biển phức tạp, ngành chức năng đã chủ động, linh hoạt chuyển đổi trạng thái hoạt động, điều chỉnh kế hoạch và tổ chức dạy học một cách linh hoạt; nhờ vậy, chất lượng giáo dục tiếp tục được duy trì; kết quả các kỳ thi học sinh giỏi, học sinh năng khiếu đạt nhiều kết quả khả quan .
Chuẩn bị chu đáo các điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ cho năm học mới 2022-2023. Việc triển khai Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 được thực hiện theo kế hoạch; trong đó, đã tổ chức lựa chọn sách giáo khoa lớp 3, lớp 7, lớp 10; trình Bộ GD&ĐT thẩm định Tài liệu giáo dục địa phương lớp 3, lớp 7, lớp 10. Tiếp tục chỉ đạo các đơn vị, trường học triển khai Kế hoạch số 141/KH-UBND trong năm học 2022-2023; gắn các nhiệm vụ, nội dung thực hiện mục tiêu Chương trình “Không có học sinh bị bạo hành, xâm hại trong nhà trường; học sinh bỏ học, bị đuối nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2021-2025” vào nhiệm vụ năm học của các các cơ quan quản lí giáo dục, các trường học, trung tâm trên địa bàn thành phố; triển khai Đề án Xây dựng, nâng cấp, mở rộng trường học giai đoạn 2021-2025; mua sắm trang thiết bị và thiết bị tối thiểu phục vụ chương trình giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông giai đoạn 2017-2025.
Lao động – Thương binh – Xã hội
– Triển khai hiệu quả Chương trình “Có việc làm”, trong năm 2022, các thành phần kinh tế trên địa bàn thành phố ước giải quyết việc làm cho 28.358 lao động; ước tổ chức được 45 phiên giao dịch việc làm thu hút gần 5.000 lượt doanh nghiệp tham gia, giải quyêt việc làm cho gần 4.000 lao động. Tăng cường công tác quản lý và cấp giấy phép cho người lao động nước ngoài, ban hành Quy chế phối hợp quản lý người lao động nước ngoài làm việc trên địa bàn thành phố Đà Nẵng… Triển khai Kế hoạch thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045; xây dựng Đề án “Phát triển nguồn nhân lực cho khu vực tư tại một số ngành, lĩnh vực mũi nhọn của thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.
– Thành phố đã tập trung thực hiện các chính sách giảm nghèo bằng nguồn kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước; ước đến cuối năm số hộ nghèo còn sức lao động còn lại (chuẩn mới đa chiều) 6.438 hộ, tỷ lệ 2,14%/tổng số hộ dân. Tham mưu Ban cán sự đảng UBND thành phố, Ban Thường vụ Thành ủy thông qua Nghị quyết tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giảm nghèo bền vững đến năm 2030; trình HĐND thành phố ban hành Nghị quyết số 45/2022/NQ-HĐND về Bảo hiểm y tế (BHYT) cho người nghèo chuẩn thành phổ. Bên cạnh đó, thành phố ban hành Kế hoạch thực hiện CTMT quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2022-2025; Kế hoạch thực hiện công tác giảm nghèo năm 2022, đặc biệt ban hành Chương trình “Không có hộ nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn” trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2022-2025. Triển khai và hoàn thành tốt công tác rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo, kết quả thành phố phê duyệt danh sách 12.036 hộ nghèo và 5.111 hộ cận nghèo theo chuẩn thành phố giai đoạn 2022-2025.
–  Thành phố đã hỗ trợ người lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 với hơn 436 tỷ đồng và hỗ trợ theo các chính sách mở rộng đối tượng hỗ trợ của thành phố đối với 13.526 người có công cách mạng với số tiền 19.406 triệu đồng; hỗ trợ các đối tượng khó khăn do dịch COVID-19 theo Quyết định số 33/2021/QĐ-TTg cho 1.102 hộ/người kinh doanh làm muối với số tiền là 3.195 triệu đồng và 8.152 hộ/người bán hàng rong với số tiền là 21.755 triệu đồng. Đồng thời ban hành Kế hoạch và thực hiện hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động theo Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg .
6 Xây dựng chính quyền – Thanh tra – Tư pháp
– Trong năm 2022, cơ quan Thanh tra thành phố đã khảo sát, tổ chức 10 Đoàn thanh tra theo kế hoạch và đột xuất ; thực hiện tốt việc rà soát và xử lý chồng chéo trong hoạt động thanh tra trên địa bàn thành phố. Báo cáo và làm việc với Thanh tra Chỉnh phủ, Tổ Công tác của Thủ tướng Chính phủ để rà soát tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc được nêu tại các kết luận thanh tra, bản án liên quan đến đất đai tại Đà Nẵng; đôn đốc các cơ quan, đơn vị thực hiện nghiêm các kết luận thanh tra. Công tác tiếp công dân, xử lý đơn và giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định của pháp luật; ban hành Quyết định số 20/2022/QĐ-UBND ngày 12/10/2022 quy định chi tiết quy trình giải quyết khiếu nại của tổ chức, công dân trên địa bành thành phố Đà Nẵng; nâng cấp Hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý công tác tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trên địa bàn thàn phố. Thực hiện đánh giá kết quả công tác phòng, chống tham nhũng cấp sở, ban, ngành và UBND các quận, huyện thành phố Đà Nẵng năm 2021. Ban hành kế hoạch và tổ chức xác minh tài sản thu nhập theo quy định.
– Thành phố đã triển khai thực hiện tốt kế hoạch công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa hoá văn bản quy phạm pháp luật và công tác pháp chế năm 2022. Công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND thành phố được thực hiện theo đúng quy định, bảo đảm chặt chẽ, tuân thủ quy trình, thủ tục luật định, bảo đảm tính thiết thực, khả thi. Công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật sau ban hành được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Triển khai thực hiện số hoá dữ liệu hộ tịch lịch sử trên địa bàn thành phố vào cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc. Ngoài ra, công tác chứng thực, lý lịch tư pháp, luật sư, trợ giúp pháp lý, quản lý xử lý vi phạm hành chính, theo dõi thi hành pháp luật… đảm bảo triển khai thực hiện hiệu quả trên các lĩnh vực.
7 Quốc phòng – an ninh
– Thành phố tiếp tục chỉ đạo tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội. Duy trì nghiêm công tác sẵn sàng chiến đấu đối với lực lượng vũ trang thành phố, phối hợp tuần tra theo Quyết định số 8394/QĐ-UBND ngày 09/11/2015 của UBND thành phố đúng quy định. Chỉ đạo diễn tập KVPT 03 quận Hải Châu, Ngũ Hành Sơn, cẩm Lệ; diễn tập chiến đấu trong KVPT 20 phường, xã và tham gia các cuộc diễn tập do Bộ Quốc phòng, Quân khu 5 tổ chức đạt kết quả tốt. Hoàn thành tốt công tác tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ. Đăng ký, quản lý, phúc tra, sắp xểp quân nhân dự bị, phương tiện kỹ thuật vào các đơn vị DBĐV đạt trên 95%; xây dựng Hải đội dân quân thường trực theo Đề án số 10609/ĐA-BQP ngày 24/9/2019 của Bộ Quốc phòng, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo bước đầu đạt được kết quả tích cực. Công tác nắm tình hình, bảo đảm an ninh trên các lĩnh vực được tăng cường; không để xảy ra “điểm nóng” về ANTT, biểu tình, bạo loạn, khủng bố; không để bị động, bất ngờ, Tiếp tục chỉ đạo huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị vào công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm; đẩy mạnh các giải pháp phòng ngừa xã hội; tân công, trân áp mạnh các loại tội phạm; tăng cường công tác truy bắt, vận động đối tượng truy nã ra đầu thú. Trong 10 tháng năm 2022, tình hình tội phạm về trật tự xã hội tiếp tục được kiểm soát, kéo giảm 7,6% so với năm 2019; đã điều tra, khám phá 311/354 vụ (đạt tỷ lệ 87,85%), bắt xử lý 613 đối tượng; tỷ lệ khám phá án rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng đạt 100%. Từ ngày 15/12/2021 đến ngày 14/11/2022), xảy ra 82 vụ tai nạn giao thông, làm chết 56 người, bị thương 55 người. So với cùng kỳ năm 2021, tăng 19 vụ, số người chết tăng 22 người, tăng 09 người bị thương.
– Tăng cường công tác quản lý cư trú, quản lý người nước ngoài, quản lý ngành nghề kinh doanh có điều kiện, quản lý và thu hồi vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ. Đẩy mạnh cải cách hành chính, tập trung triển khai Đề án số 06 của Chính phủ về phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030. Kiên trì, quyết liệt triển khai các giải pháp bảo đảm trật tự an toàn giao thông, không để xảy ra tai nạn giao thông nghiêm trọng, ùn tắc giao thông kéo dài. Tổ chức hiệu quả công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn.
II NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI NĂM 2023
1. Mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu
a) Mục tiêu tổng quát
Tiếp tục triển khai hiệu quả các giải pháp phục hồi và tăng trưởng kinh tế với Chủ đề năm 2023 là “Năm tập trung khơi thông các nguồn lực, thu hút đầu tư, giữ vững tăng trưởng kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội”. Tiếp tục đầu tư xây dụng kết cấu hạ tầng đồng bộ, có trọng điểm, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công. Đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp, thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, triển khai mạnh mẽ chuyển đối số trong tất cả các ngành, lĩnh vực. Triển khai thực hiện đồng bộ, có hiệu quả Đề án thực hiện chương trình “Thành phố 4 an” gắn với chương trình thành phố “5 không”, “3 có” nhằm bảo đảm an sinh, phúc lợi xã hội. Giữ vững và tăng cường an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, phấn đấu xây dụng thành phố Đà Nẵng an bình, là điểm đến an toàn, tin cậy đối với du khách, bạn bè quốc tế.
b) Các kịch bản
Sự khôi phục mạnh mẽ của các khu vực trong 9 tháng đầu năm 2022 đã góp phần đưa tổng sản phẩm xã hội 9 tháng ước tăng 16,76% so với năm 2021, trong đó dịch vụ tăng 21,7%, công nghiệp – xây dựng tăng 7,83%. Tuy nhiên trong quý IV/2022, khu vực công nghiệp tăng trưởng chậm lại do những khó khăn về thị trường tiêu thụ, giá nguyên nhiên vật liệu, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 10 tăng 5% và tháng 11 tăng 0,21% so với cùng kỳ 2021 (9 tháng ước tăng 11,7%); quý IV cũng là thời điểm du lịch nội địa chững lại trong khi thị trường du lịch quốc tế vẫn chưa được khôi phục đáng kể. GRDP quý IV/2022 ước tăng khoảng 9% so với quý IV/2021, thấp hơn mức tăng của 9 tháng đầu năm 2022. Một số ngành, lĩnh vực vẫn chưa phục hồi hoàn toàn là: tổng lượt khách du lịch lưu trú năm 2022 bằng 49,7% so với năm 2019, GRDP khu vực công nghiệp – xây dựng bằng 94% và GRDP dịch vụ lưu trú, ăn uống bằng 88% so với năm 2019.
Những khó khăn hiện tại sẽ tiếp tục kéo dài sang năm 2023, cùng với dự báo tình hình thế giới năm 2023 tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường cả về chính trị, an ninh, kinh tế, xã hội; tăng trưởng có xu hướng chậm lại, nguy cơ cao về suy thoái kinh tế và các rủi ro về tài chính, tiền tệ, nợ công, an ninh năng lượng, lương thực, thông tin gia tăng. Ở trong nước, nền kinh tế có những thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen nhưng khó khăn, thách thức nhiều hơn. Sức ép lạm phát lớn, tỷ giá, lãi suất gia tăng; giá nhiều yếu tố đầu vào, chi phí sản xuất kinh doanh tiếp tục xu hướng tăng như: giá xăng, dầu, nguyên vật liệu; các thị trường xuất, nhập khẩu lớn, truyền thống nguy cơ cao bị thu hẹp; nhiều vấn đề tồn đọng kéo dài và những vấn đề mới phát sinh cần phải tập trung giải quyết như: thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, bất động sản còn tiềm ẩn rủi ro, nợ xấu, nợ thuế có xu hướng tăng… Trong khi đó, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, thiên tai, hạn hấn, bão lũ tiếp tục diễn biển bất thường, ảnh hưởng nặng nề hơn.
Trên cơ sở ước thực hiện năm 2022 và dự báo tình hình năm 2023, dự kiến các kịch bản tăng trưởng năm 2023 như sau:
(1) Kịch bản 1
– Dự kiến năm 2023, khu vực dịch vụ tăng trưởng khoảng 8-8,5%, tương đương tốc độ tăng trưởng của năm 2019 và giai đoạn 2016-2019 (8,4-8,5%), tập trung vào các ngành:
+ Du lịch: đón khoảng 4,2-4,3 triệu lượt khách luu trú, khôi phục khoảng 57,3% so với năm 2019 (7,4 triệu lượt), tăng 15-15,5% so với năm 2022; doanh thu luu trú – lữ hành tăng khoảng 15,5-16% so với năm 2022 và tăng 22,5-23% so với năm 2019;
+ Doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng 8,5-9% so với năm 2022 và tăng 27,5¬28% so với năm 2019; kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tăng 6-6,5%;
– Doanh thu vận tải, kho bãi tăng khoảng 5% so với năm 2022 và tăng 7,5¬8% so với năm 2019;
+ Doanh thu thông tin – truyền thông tăng 5-5,5% so với năm 2022 và tăng 24-25% so với năm 2019.
– GRDP khu vực công nghiệp – xây dựng dự kiến tăng 3-3,5% so với năm 2022 (giai đoạn 2016-2019 tăng 5,7%); chỉ số sản xuất công nghiệp phấn đẩu tăng 5-6%.
– Thành phố tiếp tục tháo gỡ các điểm yếu, các khó khăn vướng mắc để khơi thông nguồn lực; mức độ huy động, hiệu quả sử dụng các nguồn lực và hiệu quả hoạt động của khu vực doanh nghiệp được cải thiện v.v…
Theo đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế dự báo như sau: Tổng sản phẩm xã hội trên địa bàn (GRDP, giá so sánh 2010) năm 2023 ước tăng 6,5-7%, trong đó: giá trị gia tăng khu vực dịch vụ ước tăng 8-8,5%; giá trị gia tăng khu vực công nghiệp – xây dụng ước tăng 3-3,5%, giá trị gia tăng khu vực nông, lâm nghiệp – thủy sản ước 2- 2,5%. Tổng sản phẩm xã hội trên địa bàn (GRDP, giá so sánh 2010) giai đoạn 2023¬2025 tăng bình quân 7,5-8%/năm và giai đoạn 2021-2025 tăng khoảng 7,5%/năm.
(2) Kịch bản 2
– Dư địa cho tăng trưởng và phát triển các ngành được khai thác hiệu quả. Khôi phục có hiệu quả các thị trường khách du lịch quốc tế, khôi phục hoàn toàn dịch vụ vận tải, phát huy được tiềm năng kinh tế số, chuyển đổi số, đưa vào hoạt động Cụm CN cẩm Lệ,,.
– Thành phố được hỗ trợ từ Trung ương trong tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc theo các kết luận thanh tra, điều tra và các cơ chế phát triển thành phố (Trung tâm tài chính, Khu phi thuế quan, phát huy trong giai đoạn 2023-2025); hoàn thành thủ tục, lựa chọn nhà đầu tư và sớm triển khai đầu tư xây dựng cơ sơ hạ tầng để đưa vào hoạt động khai thác, thu hút các doanh nghiệp vào các KCN, CCN trong giai đoạn 2023-2025 như: KCN hỗ trợ Khu công nghệ cao, Hòa Ninh, Hòa Nhơn; Cụm công nghiệp Hòa Nhơn, Hoà Khánh Nam; mở rộng Khu công nghệ cao; khả năng huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực của khu vực doanh nghiệp được cải thiện,v.v..
– Năm 2023 phấn đấu GRDP khu vực dịch vụ tăng trưởng khoảng 8,5-9%, tập trung vào các ngành:
+ Du lịch: đón khoảng 4,4-4,5 triệu lượt khách lưu trú, khôi phục khoảng 60% so với năm 2019 (7,4 triệu lượt), tăng 20,1% so với năm 2022; doanh thu lưu trú – lữ hành khoảng 20,5% so với năm 2022 và tăng 27,7% so với năm 2019;
+ Doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng 9-9,5%, khôi phục tương đương tốc độ tăng trưởng của giai đoạn 2016-2019 (9,3%); kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 7-7,5%;
+ Doanh thu vận tải, kho bãi phấn đấu tăng 7-7,5% (giai đoạn 2016-2019 tăng 11,1%);
+ Doanh thu thông tin – truyền thông tăng khoảng 7% so với năm 2022 và tăng khoảng 10% so với năm 2019.
– GRDP khu vực công nghiệp – xây dựng dự kiến tăng 3,5-4% so với năm 2022 (giai đoạn 2016-2019 tăng 5,7%) với chỉ số sản xuất công nghiệp phấn đấu tăng 7-8%.
Theo đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế dự báo như sau: Tổng sản phẩm xã hội trên địa bàn (GRDP, giá so sánh 2010) năm 2023 tăng 7-7,5%, trong đó: giá trị gia tăng khu vực dịch vụ ước tăng 8,5-9%; giá trị gia tăng khu vực công nghiệp – xây dụng ước tăng 3,5-4%, giá trị gia tăng khu vực nông, lâm nghiệp – thủy sản ước 2¬2,5%. Giai đoạn 2024-2025 dự kiến tăng trưởng bình quân 8,5-9%/năm, cả giai đoạn 2021-2025 tăng trưởng bình quân khoảng 8%/nãm (NQĐH XXII tăng 9-10%).
Lựa chọn kịch bản: Với những khó khăn, thách thức như dự báo, cùng với quy mô GRDP theo giá so sánh năm 2022 (73.860 tỷ đồng) đã khôi phục và vượt quy mô của năm 2019 (69.456 tỷ đông), tăng trưởng kinh tế của năm 2023 theo kịch bản 1 (tăng trưởng 6,5-7%) là khả thi. Trong trường hợp những khó khăn, thách thức của kinh tế thế giới và trong nước có xu hướng giảm, các nền kinh tế được phục hồi khả quan hơn, thành phố sẽ phấn đấu tăng trưởng đạt và vượt kịch bản 2 (tăng trưởng khoảng 7-7,5%, xấp xỉ tốc độ tăng trưởng bình quân của giai đoạn 2016-2019 (7,7%/năm)).
c) Các chỉ tiêu chủ yếu năm 2023
(1) Tổng sản phẩm xã hội trên địa bàn (GRDP, giá SS2010) ước tăng 6,5-7% so với ước thực hiện 2022;
(2) Giá trị gia tăng khu vực dịch vụ ước tăng 8-8,5%;
(3) Giá trị gia tăng khu vực công nghiệp – xây dựng ước tăng 3-3,5%;
(4) Giá trị gia tăng khu vực nông, lâm nghiệp – thủy sản ước 2-2,5%;
(5) GRDP bình quân đầu người đạt 4,500 USD;
(6) Tỷ trọng công nghiệp chế biển, chế tạo trong GRDP đạt khoảng 13,5-14%;
(7) Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước tăng 6-7%;
(8) Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt và vượt dự toán TW giao;
(9) Tổng vốn đầu tư phát triển ước tăng 6-7%;
(10) Tỷ suất sinh thô tăng 0,06%o;
(11) Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân khoảng 3-4%;
(12) Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 3,2%;
(13) Tỷ lệ lực lượng lao động qua đào tạo (có bằng cấp chứng chỉ) đạt 53,7%;
(14) Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều còn sức lao động đến cuối năm (chuẩn thành phố) giảm còn 1,39%;
(15) Có từ 1-2 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao;
(16) Gọi công dân nhập ngũ đạt 100% chỉ tiêu kế hoạch.
2. Nhiệm vụ, giải pháp phát triển các ngành, lĩnh vực
a) Công tác chỉ đạo, điều hành
b) Tập trung phòng chổng, kiểm soát dịch bệnh
c) Về phát triển kinh tế
d) Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, tăng cường thu hút đầu tư trong và ngoài nước; thực hiện tốt công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế
đ) Thực hiện tốt công tác quản lý đầu tư – xây dựng cơ bản, quy hoạch, đô thị, tài nguyên và môi trường
e) Về công tác thu chi và điều hành ngân sách nhà nước
g) Tiếp tục giải quyết và phát triển các lĩnh vực văn hóa – xã hội; tăng cường các chính sách an sinh xã hội, bảo đảm đời sông nhân dân
h) Nâng cao hiệu quả công tác cải cách hành chính, tập trung công tác xây dựng chính quyền, thanh tra, tư pháp, giải quyết kịp thời các khiếu nại, tố cáo
i) Tăng cường cũng cố quốc phòng – an ninh, giữ vững ổn định chính trị, an toàn giao thông và trật tự xã hội

TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG: (0236) 1022 hoặc *1022, miễn phí phục vụ  
1. Đường dây nóng tiếp nhận ý kiến phản ánh, góp ý của tổ chức, công dân.
2. Hướng dẫn, giải đáp quy định, chính sách, thông tin kinh tế – xã hội.
3. Hướng dẫn thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến.
4. Cung cấp thông tin về hỗ trợ doanh nghiệp; quy định, chính sách hỗ trợ Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
5. Cung cấp thông tin về du lịch, sự kiện Văn hóa – Thể thao.
6. Cung cấp dịch vụ Tổng đài CSKH, nhắn tin CSKH, truyền thông, sự kiện và các dịch vụ tư vấn khác…

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *