UBND thành phố phê duyệt Quyết định số 1492/QĐ-UBND ngày 17-7-2023 ban hành Kế hoạch quản trị và phát triển hạ tầng dữ liệu thành phố Đà Nẵng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, nhằm thu thập, khai phá tiềm năng của dữ liệu số, phục vụ tốt hơn cho các hoạt động của các cơ quan chính quyền thành phố thúc đẩy chính quyền số; cung cấp các dịch vụ dữ liệu cho doanh nghiệp, người dân nhằm tăng năng suất lao động, tạo ra ngành/lĩnh vực/mô hình kinh doanh/sản phẩm mới, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, góp phần hình thành công dân số và xã hội số phát triển bền vững.
Theo đó, mục tiêu đến năm đến năm 2025, 100% dữ liệu cơ bản nhất tạo nền tảng cho Chính quyền số được hoàn thành và chia sẻ bao gồm dữ liệu về: dữ liệu gắn với con người (dân cư, bảo hiểm, y tế và an sinh xã hội, giáo dục và đào tạo; cán bộ công chức, viên chức, căn cước, hộ tịch); dữ liệu gắn với cơ quan, tổ chức (doanh nghiệp, tài chính); dữ liệu gắn với tài nguyên (đất đai, hạ tầng không gian địa lý; hạ tầng kỹ thuật công cộng). Tối thiểu 20% thủ tục hành chính của các cơ quan nhà nước được cắt giảm thông qua kế thừa dữ liệu số; 100% dịch vụ cấp lại, cấp đổi được thực hiện ngay trong ngày.
Bên cạnh đó, 100% kết quả thủ tục hành chính phát sinh từ năm 2016 được số hóa, lưu trữ trong Kho kết quả số thủ tục hành chính; sử dụng ít nhất 10 loại dữ liệu số chuyên ngành để thay thế thành phần hồ sơ phải nộp trong cung cấp dịch vụ công; 100% chế độ báo cáo, chỉ tiêu tổng hợp báo cáo định kỳ và báo cáo thống kê về kinh tế – xã hội được sử dụng báo cáo điện tử và được kết nối, tích hợp, chia sẻ; được phân tích để phục vụ chỉ đạo, điều hành. Tối thiểu 50% hoạt động giám sát, kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước dược thực hiện thông qua môi trường số và hệ thống thông tin của cơ quan quản lý.
Phấn đấu 100% các cơ sở dữ liệu thành phố, cơ sở dữ liệu của sở, ngành, địa phương phải được quản lý, lưu trữ ở kho dữ liệu dùng chung thành phố và kết nối đồng bộ thông suốt với Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu thành phố, cổng ,dữ liệu mở của thành phố; 100% các sở, ngành, địa phương tham gia cung cấp dữ liệu mở. Tối thiểu mỗi cơ quan cấp sở, cấp huyện ban hành và duy trì cập nhật được 5 bộ dữ liệu mở mới một năm. Đến cuối giai đoạn, cả thành phố cung cấp ít nhất 1.000 bộ dữ liệu mở; trong đó có tối thiểu 50 bộ dữ liệu được sử dụng tạo ra sản phẩm mới.
Đồng thời, 100% các sở, ngành, địa phương mỗi năm có ít nhất một sáng kiến sử dụng dữ liệu trên cơ sở ứng dụng công nghệ mới AI, Big data để hỗ trợ ra quyết định, ứng dụng công nghệ số, dữ liệu số để góp phần tạo ra ít nhất 3 sản phẩm du lịch mới cho thành phố. Mỗi người dân có mã ID y tế duy nhất và có hồ sơ sức khỏe điện tử cá nhân; 100% cơ sở y tế sử dụng hồ sơ sức khỏe điện tử trong khám, chữa bệnh không sử dụng bệnh án giấy. Mỗi học sinh có mã ID duy nhất và có hồ sơ học bạ điện tử liên thông giữa các cấp.
Đến năm 2030, Đà Nẵng được định vị là thành phố số, hoàn thành xây dựng đô thị thông minh và kết nối đồng bộ với các mạng lưới đô thị thông minh trong nước và khu vực ASEAN. Hạ tầng dữ liệu thành phố bền vững, bao phủ các ngành, lĩnh vực trọng điểm. Chính quyền hoạt động dựa trên dữ liệu; dữ liệu đóng vai trò then chốt trong quyết định chỉ đạo điều hành, quản trị thành phố. Kinh tế dữ liệu phát triển đi sâu vào hoạt động của xã hội, chiếm tỉ trọng đáng kể trong nền kinh tế tại địa bàn. Tối thiểu 30% thủ tục hành, chính của các cơ quan nhà nước được cắt giảm thông qua kế thừa dữ liệu số.
Sử dụng ít nhất 100 loại dữ liệu số để thay thế thành phần hồ sơ phải nộp trong cung cấp dịch vụ công; tối thiểu 70% hoạt động giám sát, kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước được thực hiện thông qua môi trường số và hệ thống thông tin của cơ quan quản lý. Thiết lập và công bố 5.000 bộ dữ liệu mở để công khai cho tổ chức công dân, doanh nghiệp, trong đó có ít nhất 500 bộ dữ liệu được sử dụng tạo ra sản phẩm mới. Ứng dụng công nghệ số, dữ liệu số để góp phần tạo ra ít nhất 5 sản phẩm du lịch mới cho thành phố.
Để đạt được mục tiêu trên, giải pháp đặt ra là tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức về dữ liệu; trong đó nhấn mạnh vai trò và tầm quan trọng của dữ liệu là nguồn tài nguyên quan trọng có giá trị cao, là hạ tầng kiến tạo phát triển chính quyền số, kinh tế số, xã hội số; dữ liệu càng được chia sẻ, càng khai thác dùng chung thì càng tạo ra giá trị. Phát triển tầm nhìn dài hạn về dữ liệu trong cơ quan, đơn vị, địa phương; hoạt động về quản lý dữ liệu phải được lập kế hoạch, xây dựng, lưu trữ, đánh giá chất lượng, kiểm kê, sử dụng, chia sẻ. Đưa dữ liệu trở thành thành phần cốt lõi không thể tách rời trong mọi hoạt động chỉ đạo, điều hành và ra quyết định của cơ quan, đơn vị, địa phương.
Người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương chịu trách nhiệm trực tiếp về quản trị dữ liệu trong phạm vi lĩnh vực, địa bàn mình phụ trách. Xây dựng, phát huy văn hóa dữ liệu; nâng cao vai trò, trách nhiệm của mọi thành phần trong cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân đối với các hoạt động trong suốt vòng đời dữ liệu; trong đó phân công một cán bộ dữ liệu đóng vai trò tham mưu, tổ chức và thực thi quản lý dữ liệu, xác định trách nhiệm của từng cán bộ, công chức, viên chức trong việc tạo lập, duy trì, cập nhật dữ liệu số do mình phụ trách.
Tổ chức các chương trình đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng về kỹ năng quản trị dữ liệu cho lãnh đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương; tập huấn bồi dưỡng về kỹ năng tham mưu, thực thi quản lý dữ liệu số, kỹ năng phân tích, xử lý và khai thác dữ liệu số, bảo đảm an toàn thông tin dữ liệu cho cán cán bộ, công chức, viên chức thành phố. Thúc đẩy, đưa khoa học dữ liệu vào chương trình đại học tất cả các ngành học về công nghệ thông tin, kinh tế, xã hội từ cơ bản đến nâng cao.
Nghiên cứu, phát triển các phương pháp thu nhận dữ liệu mới qua cảm biến, thiết bị IoT, máy bay không người lái, thiết bị giám sát, tương tác, giao dịch sử dụng thiết bị số. Nghiên cứu, làm chủ các công nghệ về phân tích dữ liệu lớn, phát triển các mô hình trí tuệ nhân tạo, các thư viện, thuật toán học máy, học sâu. Ưu tiên các đề tài nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực khoa học dữ liệu, trí tuệ nhân tạo; ưu tiên phân bổ các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cho công nghệ số, dữ liệu số. Thực hiện cơ chế đặt hàng, tuyển chọn theo quy định các doanh nghiệp công nghệ số của thành phố đủ năng lực nghiên cứu, làm chủ các công nghệ lõi; khuyến khích hợp tác, chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực khoa học dữ liêu, trí tuệ nhân tạo.
Đồng thời, tranh thủ các chương trình, dự án, nguồn vốn của Bộ, ngành Trung ương về chuyển đổi số, tạo lập, xây dựng các các cơ sở dữ liệu thành phố. Tăng cường huy động nguồn lực doanh nghiệp qua hình thức thuê dịch vụ công nghệ thông tin, đối tác công tư (PPP); huy động các nguồn vốn vay ODA, tài trợ không hoàn lại trong phát triển hạ tầng dữ liệu. Khuyến khích phát triển và áp dụng các ứng dụng, dịch vụ thông minh có thu phí với hình thức phù hợp, như ứng dụng thu phí đỗ xe trực tuyến, thu phí sử dụng dữ liệu của cơ quan nhà nước… và khuyến khích người dân sử dụng (không bắt buộc) nhằm tạo thêm nguồn kinh phí tái đầu tư cho các dự án, ứng dụng thông minh khác.
UBND thành phố giao Sở Thông tin và Truyền thông là cơ quan thường trực, đầu mối, chủ trì tổ chức triển khai Kế hoạch; theo dõi, hướng dẫn, đôn đốc các cơ quan, đơn vị, địa phương triển khai thực hiện; định kỳ hàng năm báo cáo UBND thành phố tình hình, kết quả thực hiện. Chủ động nắm bắt, tổng hợp các khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai Kế hoạch và phối hợp với các ngành, địa phương tìm phương án giải quyết, báo cáo Ban Chỉ đạo Chuyển đổi số thành phố, UBND thành phố xem xét, quyết định.
Sở Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm tổ chức thẩm tra, thẩm định, hướng dẫn, hỗ trợ các cơ quan, đơn vị, địa phương trong việc đảm bảo thiết kế kỹ thuật, xây dựng các dịch vụ dữ liệu, xây dựng các chuẩn kết nối, chia sẻ dữ liệu, xây dựng các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu đảm bảo tính kế thừa, tránh trùng lặp thông tin, dữ liệu đã được xây dựng, tạo lập, chia sẻ. Nghiên cứu, đề xuất áp dụng các công nghệ phân tích, xử lý dữ liệu theo các xu hướng chung của thế giới cho các cơ quan thành phố.
Văn phòng UBND thành phố chủ trì, phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Nội vụ và các dơn vị liên quan hướng dẫn các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện chuẩn hóa, tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong các cơ quan nhà nước thông qua kế thừa, sử dụng dữ liệu số.
UBND thành phố giao Sở Nội vụ phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông, Văn phòng UBND thành phố hướng dẫn các sở, ngành, địa phương thực hiện cải cách hành chính, đưa dữ liệu số trở thành công cụ lõi trong triển khai, vận hành mô hình Chính quyền đô thị điều hành dựa trên dữ liệu. Trên cơ sở đề nghị của các cơ quan, đơn vị, tham mưu cấp có thẩm quyền giao tổ chức các lớp bồi dưỡng về dữ liệu cho lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức thành phố tại Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức hằng năm.
Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, Sở Thông tin và Truyền thông tham mưu UBND thành phố về việc cân đối, bố trí nguồn vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025 và vốn đầu tư phát triển hàng năm để thực hiện các chương trình, dự án phát triển hạ tầng dữ liệu số. Phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông nghiên cứu, đề xuất các biện pháp thu hút, kêu gọi các nguồn vốn ngoài ngân sách như vốn vay ưu đãi từ các tổ chức tài trợ nước ngoài, vốn ODA, hợp tác công tư (PPP) để kêu gọi các tổ chức, doanh nghiệp cùng tham gia thực hiện các chương trình, dự án phát triển dữ liệu số.
Các sở, ban, ngành, UBND quận, huyện, phường, xã có trách nhiệm chủ động, tích cực triển khai các nhiệm vụ, giải pháp được giao tại Kế hoạch này, đảm bảo hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu, lộ trình đề ra. Hàng năm đưa mục tiêu, nhiệm vụ của Kế hoạch này vào kế hoạch chuyển đổi số của các cơ quan, địa phương. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị khác trong việc thực hiện chia sẻ dữ liệu liên ngành, liên vùng, đảm bảo tính đồng bộ, kết nối, liên thông. Khai thác, triển khai các sáng kiến về sử dụng dữ liệu số phục vụ cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp.
Trên cơ sở nội dung Kế hoạch đã được phê duyệt, các sở, ban, ngành, UBND quận, huyện, phường, xã xây dựng dự toán kinh phí triển khai hiệu quả nhiệm vụ được giao, gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính thẩm định, tham mưu UBND thành phố bố trí kinh phí thực hiện theo đúng quy định; chủ động huy động các nguồn kinh phí khác (ODA, xã hội hóa,..) và lồng ghép trong các nguồn kinh phí dự án, đề án khác để thực hiện nhiệm vụ. Đồng thời, tích cực triển khai các chương trình, dự án phát triển hạ tầng dữ liệu số, đảm bảo tuân thủ theo Khung Kiến trúc, các tiêu chuẩn, quy chuẩn và các quy định, hướng dẫn của Trung ương và thành phố, đảm bảo tiến độ, chất lượng và hiệu quả đầu tư dự án.
UBND thành phố đề nghị các tổ chức chính trị, xã hội, cơ sở đào tạo, hội, hiệp hội, doanh nghiệp trên địa bàn thành phố tích cực, chủ động tham gia đồng hành triển khai các nhiệm vụ, sáng kiến dữ liệu của thành phố; sử dụng các ứng dụng, dịch vụ dữ liệu của thành phố và đóng góp dữ liệu của mình làm giàu kho tài nguyên dữ liệu thành phố. Đưa dữ liệu số vào trong mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản trị, đào tạo, nghiên cứu, điều hành, ra quyết định dựa trên dữ liệu, hướng đến thực hiện thành công chuyển đổi số của đơn vị nói riêng và thành phố nói chung.
Theo danang.gov.vn
TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG: (0236) 1022 hoặc *1022, miễn phí phục vụ
1. Đường dây nóng tiếp nhận ý kiến phản ánh, góp ý của tổ chức, công dân.
2. Hướng dẫn, giải đáp quy định, chính sách, thông tin kinh tế – xã hội.
3. Hướng dẫn thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến.
4. Cung cấp thông tin về hỗ trợ doanh nghiệp; quy định, chính sách hỗ trợ Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
5. Cung cấp thông tin về du lịch, sự kiện Văn hóa – Thể thao.
6. Cung cấp dịch vụ Tổng đài CSKH, nhắn tin CSKH, truyền thông, sự kiện và các dịch vụ tư vấn khác…


English