Đờn ca tài tử Nam Bộ là loại hình nghệ thuật trình diễn phổ biến ở miền Nam Việt Nam, ra đời vào cuối thế kỷ XIX, từ nhu cầu của cộng đồng nhằm phản ánh suy nghĩ, tâm tư, tình cảm của những người dân mở đất phương Nam – vùng miệt vườn, sông nước, với lối sống cần cù, phóng khoáng, cởi mở, bình dị mà nghĩa hiệp, can trường.
Trong nghệ thuật đờn ca, nam và nữ có vai trò bình đẳng, người đàn và người hát có vị trí tương đương nhau.
Dàn nhạc của Đờn ca tài tử có nhiều nhạc cụ hơn dàn nhạc của Ca trù và ca Huế. Trước đây, dàn nhạc Đờn ca tài tử sử dụng các loại nhạc cụ gồm đàn kim (đàn nguyệt), đàn cò (đàn nhị), đàn tranh, song loan, sáo, tiêu và từ năm 1920, lục huyền cầm (đàn ghita phím lõm), hạ uy cầm và violon cũng được thêm vào trong dàn nhạc. Khi biểu diễn nhạc tài tử, các nghệ sĩ thường chú trọng đến sự kết hợp các nhạc cụ có âm sắc khác nhau. Thường thấy nhất là song tấu đàn kim và đàn tranh, là sự kết hợp giữa tiếng tơ và tiếng sắt, được gọi là sắt cầm hảo hiệp. Cũng có khi là tam tấu đàn kim – tranh – cò, kim – tranh – độc huyền, tranh – cò – độc huyền mà giới chuyên gia gọi là tam chi liên hoàn pháp. Nếu một ban nhạc tài tử có ba nhạc công và một ca sĩ thì được gọi là ban tứ tuyệt, nếu có bốn nhạc công và một ca sĩ thì được gọi là ban ngũ nguyệt.
Trước đây, Đờn ca tài tử được biểu diễn chủ yếu trong các tư gia hoặc phục vụ một số ít khán giả, tuy nhiên, theo thời gian và do sức hấp dẫn của dòng nhạc này mà ngày nay Đờn ca tài tử đã được sân khấu hóa để biểu diễn phục vụ công chúng.
Điểm đặc biệt của Đờn ca tài tử là ở chỗ thường được biểu diễn ngẫu hứng, dựa trên bản nhạc gốc truyền thống, người hát cải biên đi theo cách riêng của mình. Sự khác biệt này khiến người nghe luôn cảm thấy mới lạ dù nghe cùng một bài. Phần hay nhất trong Đờn ca tài tử là ở phần rao của người đàn và nói lối của người ca. Người đàn dùng rao – người ca dùng nói lối – để lên dây đàn và gợi cảm hứng cho bạn diễn, tạo không khí cho dàn tấu. Ngoài ra, khi trình diễn các nghệ sĩ có thể dùng tiếng đàn của mình để “đối đáp” hoặc “thách thức” với người đồng diễn. Đây cũng là điểm tạo sự mới lạ, hấp dẫn, cuốn hút của loại hình nghệ thuật dân tộc này.
Tài liệu tham khảo: Hỏi – đáp về di sản thế giới và di sản thế giới tại Việt Nam (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật).
TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG
tiếp tục đăng tải
Hỏi – đáp về di sản thế giới và di sản thế giới tại Việt Nam
.
Chi tiết các câu hỏi – trả lời khác
, Quý anh/chị vui lòng liên hệ đường dây nóng
0236 1022
để được cung cấp (cước gọi điện 200đ+/phút, KHÔNG THU PHÍ PHỤC VỤ).
TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG: (0236) 1022 hoặc *1022, miễn phí phục vụ
1. Đường dây nóng tiếp nhận ý kiến phản ánh, góp ý của tổ chức, công dân.
2. Hướng dẫn, giải đáp quy định, chính sách, thông tin kinh tế – xã hội.
3. Hướng dẫn thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến.
4. Cung cấp thông tin về hỗ trợ doanh nghiệp; quy định, chính sách hỗ trợ Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
5. Cung cấp thông tin về du lịch, sự kiện Văn hóa – Thể thao.
6. Cung cấp dịch vụ Tổng đài CSKH, nhắn tin CSKH, truyền thông, sự kiện và các dịch vụ tư vấn khác…


English