Cách đây 500.000-700.000 năm, trên vùng đất thuộc lãnh thố đất nước Việt Nam đã có con người sinh sống. Đó là những người tối cổ. Họ sống thành từng bầy và cư trú trong các hang động hay mái đá. Săn bắt và hái lượm là phương thức sinh sống của họ.
Người tối cổ dần tiến hóa thành người tinh khôn. Quá trình tiến hóa khiến con người thông minh hơn. ý thức về xẫ hội loài người mạnh mẽ hơn và hoàn thiện hơn về cách chế tác công cụ lao động. Đến nay, dấu vết về sự tồn tại của người tinh khôn được phát hiện trên một địa bàn kéo dài thuộc các tỉnh từ Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Bắc Giang đến Thanh Hóa, Nghệ An và Quảng Trị.
Khác với người tố cổ, người tinh khôn không còn sống theo bầy đàn, mà cố kết lại thành nhóm theo huyết thống. Những người cùng dòng máu sống chung tạo thành các thị tộc. Nhiêu thị tộc có mối quan hệ gần gũi với nhau đã hợp lại thành bộ lạc.
Cách nay 7.000-12.000 năm cư dân cổ ở nước ta, ngoài săn bắt, hái lượm, đã biết thuần hóa nuôi dưỡng một số loài động vật và trồng một vài loại rau, củ, cây ăn trái. Nền nông nghiệp sơ khai hình thành. Cho đến cách ngày nay 6.000-10.000 năm, cư dân cổ ở nước ta đã đạt những bước tiến vượt bậc về kỷ thuật chế tác công cụ bằng đá. Những công xưởng sản xuất công cụ bằng đá quy mô lớn dần được tổ chức. Cư dân cổ xưa đã biết làm đồ gốm, chế tạo trang sức. Hoạt động chăn nuôi và trồng trọt thành thục hơn, dần trở thành hoạt động kinh tế quan trọng. Dân số tăng nhanh.
Cách ngày nay khoảng 5.000-6.000 năm, cuộc sống của con người trên đất nước Việt Nam ngày càng phát triển. Cây lúa nước được trồng ở khắp nơi. Địa bàn cư trú của các thị tộc, bộ lạc được mở rộng. Nhiều nơi trên nước ta đã phát hiện được dấu vết của người Việt cổ như Lạng Sơn, Lai Châu, Sơn La, Hải Phòng, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Gia Lai, Đắk Lắk, Đồng Nai… Giữa các bộ lạc bắt đầu có quan hệ trao đổi, thậm chí là buôn bán sản phẩm.
Đến cuối thời nguyên thủy, cách nay khoảng 3.000-4.000 năm, các bôk lạc trên nước ta bắt đầu biết sử dụng kim loại đồng và thuật luyện kim để chế tạo các loại công cụ sản xuất và vũ khí. Về sau, họ còn biết luyện kim đối với nguyên liệu là sắt. Các loại cày, cuốc, liềm… bằng đồng hay sắt đã giúp cư dân khai phá đất đai nhiều hơn, phát triển nghề trồng lúa nước.
Nghề luyện kim và nông nghiệp lúa nước phát triển đẫ làm cho cuộc sống phát triển về mọi mặt. Con người sinh tụ thành làng xóm. Một số quan niệm và tập quán về tín ngưỡng, phong tục, thẩm mỹ, chôn cất người chết, nhận thức về tự nhiên và con người hình thành.
Trên mỗi miền đất nước lúc này đã phát sinh các nền văn hóa lớn. Ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ là sự hiện diện của văn hóa Phùng Nguyên (từ đầu thiên niên kỷ II TCN), tiến triển qua giai đoạn Đồng Đậu. Gò Mun rồi đến giai đoạn văn hóa Đông Sơn rực rỡ về sau. Ở vùng Nam Trung Bộ là sự hình thành của văn hóa Sa Huỳnh trên cơ sở văn hóa tiền Sa Huỳnh. Ở miền Nam là sự phát triển của văn hóa Đồng Nai thuộc khu vực Đông Nam Bộ và văn hóa tiền Óc Eo thuộc khu vực Tây Nam Bộ.
Tài liệu tham khảo: Những điều cần biết về lịch sử Việt Nam (hỏi – đáp) (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật).
TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG
tiếp tục đăng tải
Những điều cần biết về lịch sử Việt Nam (hỏi – đáp)
.
Chi tiết các câu hỏi – trả lời khác
, Quý anh/chị vui lòng liên hệ đường dây nóng
0236 1022
để được cung cấp (cước gọi điện 200đ+/phút, KHÔNG THU PHÍ PHỤC VỤ).
TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG: (0236) 1022 hoặc *1022, miễn phí phục vụ
1. Đường dây nóng tiếp nhận ý kiến phản ánh, góp ý của tổ chức, công dân.
2. Hướng dẫn, giải đáp quy định, chính sách, thông tin kinh tế – xã hội.
3. Hướng dẫn thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến.
4. Cung cấp thông tin về hỗ trợ doanh nghiệp; quy định, chính sách hỗ trợ Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
5. Cung cấp thông tin về du lịch, sự kiện Văn hóa – Thể thao.
6. Cung cấp dịch vụ Tổng đài CSKH, nhắn tin CSKH, truyền thông, sự kiện và các dịch vụ tư vấn khác…


English